|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 10 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Vĩnh Nam và ông Ma Vĩnh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Diệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Quang T, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 05/8/2000, tại xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lương Hữu T1, sinh năm 1977 và bà Lương Thị Đ, sinh năm 1980; Vợ: Ma Thị Hồng H, sinh năm 2001; Con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Ngày 08/5/2024 bị Công an huyện Q, Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng (đã chấp hành)
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
- Bị hại:
1/ Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1989. Trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
2/ Nông Thị M, sinh năm 1973. Trú tại: Phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ma Thị Hồng H; sinh năm 2001; trú tại: Xóm B, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng:
1/ Bế Thị H2, sinh năm 1978. Trú tại: Xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
2/ Ngô Thị L, sinh năm 1990. Trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
3/ Đinh Văn H3, sinh năm 1989. Trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
(Những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/4/2024, Công an xã C, Q, Cao Bằng nhận được đơn trình báo của chị Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, Q, Cao Bằng là giáo viên công tác tại Trường mầm non C, Q (địa chỉ xóm :, Cách L1, Q, Cao Bằng) về việc chị H1 bị mất trộm số tiền khoảng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) trong 02 con lợn đất (tiền tiết kiệm) để tại phòng ở của chị trong dãy nhà tập thể của nhà trường. Cùng ngày, chị Nông Thị M, sinh năm 1973, trú tại: phố H, thị trấn Q, Q, Cao B cũng là giáo viên ở cùng dãy tập thể trong trường báo bị mất trộm 01 (một) Kiềng vàng loại 10K, 01 (một) đồng hồ đeo tay và một đôi tai nghe B1 để ở trong phòng. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã C đã thông báo và phối hợp với Công an huyện Q tiến hành kiểm tra, xác minh và triệu tập đối tượng Lương Quang T, sinh năm 2000, trú tại: xóm B, C, T, Cao Bằng để làm việc. Quá trình làm việc T khai nhận là người đã thực hiện trộm cắp tài sản tại hai phòng ở của dãy nhà tập thể Trường mầm non C và tự nguyện giao nộp 01 (một) đồng hồ đeo tay, 01 (một) đôi tai nghe màu đen.
Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Q đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và xác định hiện trường vụ việc xác định vị trí các tài sản trước khi bị mất trộm.
Ngày 17/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã yêu cầu định giá đối với các tài sản Lương Quang T đã trộm cắp được vào ngày 11/4/2024.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13 ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện Q, kết luận: Nhất trí với nội dung báo cáo thuyết minh và biên bản định giá, giá trị của tài sản là: 820.000 đồng. Trong đó: 01 (một) đồng hồ đeo tay đã qua sử dụng, dây cao su, màu trắng, dài 22,5cm, mặt sau đồng hồ có ghi chữ “Bolan” mua khoảng tháng 01/2024 có giá 350.000 đồng; 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth, màu đen đã qua sử dụng mua vào khoảng tháng 01/2024 có giá 472.000 đồng. Đối với 01 (một) vòng kiềng màu vàng theo khai nhận của Nông Thị M thì vòng kiềng màu vàng, loại vàng 10k mua trên mạng xã hội Facebook từ năm 2016 không có giấy tờ mua bán, không xác định được khối lượng (chỉ), do đó Hội đồng không định giá được tài sản.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 14 giờ ngày 11/4/2024, T từ nhà mẹ vợ (bà Bế Thị H2, sinh năm: 1978) ở xóm B, C, Q, Cao B (Trình đến ở từ mấy ngày trước) đến Công an xã C, Q hỏi về vụ việc trộm cắp tài sản ngày 09/4/2024. Sau đó, T đi xe mô tô đến và dừng xe trước cổng Trường mầm non C thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản ở trong trường. Trình để xe ở trước cổng trường và đi vòng qua bên cạnh tường rào rồi trèo tường vào khu tập thể, đi đến phòng đầu tiên của dãy nhà tập thể (phòng của Ngô Thị Thu H1) kéo chốt cửa phòng bung ra và đi vào phòng lấy 01 (một) con lợn đất màu vàng ở cạnh giường đập ra bên trong có 20.000 đồng và 01 (một) con lợn đất màu đỏ ở trong tủ đập ra bên trong có 2.000.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). Sau đó, T lấy toàn bộ số tiền cất vào túi quần rồi đi ra khỏi phòng chốt cửa lại và tiếp tục sang phòng bên cạnh (phòng của Nông Thị M) kéo chốt mở cửa phòng đi vào lấy 01 (một) đồng hồ màu trắng viền vàng, 01 (một) kiềng bằng kim loại màu vàng để ở đầu giường cho vào túi áo khoác bên phải T đang mặc và tiếp tục lấy 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth màu đen để trong túi đặt dưới nền nhà rồi cất tiếp vào túi áo khoác bên phải. Sau đó, T nghe thấy tiếng mẹ vợ gọi nên đi ra khỏi phòng chốt cửa lại như cũ, đi vòng qua đằng sau khu tập thể đi ra cổng trường để lấy xe thì thấy bà H2 đã dắt xe ra đứng tại ngã ba đường rẽ vào trường mầm non (Bà H2 thấy xe máy Trình để tại cổng trường không thấy người nên gọi và dắt xe đi). Trình đi đến và cùng bà H2 đợi vợ của T là chị Ma Thị Hồng H, một lúc sau H đi đến thì T bảo H đưa ra thị trấn H ăn mì cay, còn bà H2 khác đi về. Khi hai người đến thị trấn H thì T bảo không ăn nữa mà đưa vợ đến cửa hàng điện thoại “Đình Huynh” tại tổ dân phố G, thị trấn H, Q, Cao B và bảo vợ đứng đợi để T đi vay tiền mua điện thoại.
Sau đó, T đến tiệm vàng của chị Ngô Thị L, sinh năm 1990, trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn H, Q, Cao Bằng để bán vòng Kiềng và một số đồ vật, tài sản khác. Qua kiểm tra, chị L mua lại với T 01 vòng bằng bạc với giá 200.000 đồng (Trình tự mua trước đó), còn vòng kiềng màu vàng là loại trang sức mỹ ký và một số đồ vật khác không phải vàng nên chị L không mua. Sau đó, T đi mua thẻ điện thoại hết 150.000 đồng (gồm 01 thẻ mệnh giá 100.000 đồng và 01 thẻ mệnh giá 50.000 đồng) rồi đi về cửa hàng điện thoại “Đình Huynh”, trên đường đi T vứt túi nilon bên trong có 01 kiềng màu vàng và một số đồ vật khác ở bên đường. Đến nơi T cùng vợ vào cửa hàng điện thoại mua với anh Đinh Văn H3 chủ cửa hàng 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen với giá 2.000.000 đồng, trong đó có 1.700.000 đồng là tiền trộm cắp và 300.000 đồng T xin vợ để mua.
Mua được điện thoại T cùng vợ đi về ở xóm B, Cách L1 rồi cất giấu chiếc đồng hồ và đôi tai nghe mục đích để sử dụng cho bản thân, số tiền còn lại T đã chi tiêu cá nhân hết.
Lời khai của Lương Quang T tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại chị Ngô Thị Thu H1, chị Nông Thị M; lời khai của người làm chứng chị Ngô Thị L – chủ tiệm vàng; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Ma Thị Hồng H và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra thu giữ: 01 (một) đồng hồ đeo tay, dây cao su, màu trắng, dài 22,5cm, mặt sau đồng hồ có ghi chữ “Bolan” đã qua sử dụng. 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth, màu đen đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen máy cũ đã qua sử dụng và 01 (một) dây cáp sạc màu trắng.
Về dân sự: Bị hại Ngô Thị Thu H1 yêu cầu được nhận lại số tiền 2.020.000 đồng; bị hại Nông Thị M yêu cầu được nhận lại 01 (một) đồng hồ đeo tay và 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth, còn đối với chiếc vòng kiềng do không có căn cứ xác định được giá trị tài sản và chị M thấy giá trị chiếc kiềng không cao nên không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 39/CT-VKSQH ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Lương Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lương Quang T thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội của bị cáo là do muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp quy định của pháp luật trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đang trong quá trình xử lý về hành vi trộm cắp mà vẫn cố ý thực hiện hành vi mới. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là sai nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lương Quang T từ 06 tháng tù – 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Trả cho chị Nông Thị M 01 đôi tai nghe Bluetooth màu đen, đã qua sử dụng và 01 đồng hồ đeo tay, dây cao su, màu trắng, dài 22,5cm, mặt sau đồng hồ ghi chữ “Bolan” đã qua sử dụng. Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen máy cũ đã qua sử dụng và 01 dây cáp sạc màu trắng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lương Quang T bồi thường cho chị Ngô Thị Thu H1 số tiền 2.020.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị hại Ngô Thị Thu H1 nhất trí với quan điểm xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Lương Quang T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, các lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh: Ngày 11/4/2024, Lương Quang T đã có hành vi đột nhập vào phòng ở của chị Ngô Thị Thu H1 và phòng ở của chị Nông Thị M tại dãy nhà tập thể của Trường mầm non C thuộc xóm Đ, Cách L1, Q, Cao B lấy trộm của chị H1 số tiền 2.020.000 đồng để trong 02 (hai) con lợn đất, lấy trộm của chị M 01 (một) đồng hồ đeo tay, 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth trị giá 820.000 đồng và 01 (một) kiềng bằng kim loại màu vàng. Tổng số tiền và tài sản T đã trộm cắp là 2.840.000 đồng. Sau đó, T lấy số tiền 1.700.000 đồng trộm cắp có được đi mua 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 với giá 2.000.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng T lấy với vợ để mua), số tiền còn lại T đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi sự việc bị phát hiện T đã tự nguyện giao nộp 01 (một) đồng hồ đeo tay, 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth, còn chiếc kiềng bằng kim loại màu vàng T đã vứt ở dọc đường cùng với một số đồ vật khác.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội và trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lương Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Lương Quang T có nhân thân xấu, mặc dù đang trong quá trình xử lý vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa chị Ngô Thị Thu H1 xác nhận về số tiền bị mất là 2.020.000 đồng. Chị yêu cầu bị cáo trả cho chị số tiền này, do bị cáo đã sử dụng hết số tiền này vào việc cá nhân nên buộc bị cáo Lương Quang T trả lại cho chị H1 số tiền 2.020.000 đồng bị cáo đã trộm cắp.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 (một) đồng hồ đeo tay và 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth là tài sản của chị Nông Thị M nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Còn đối với chiếc vòng kiềng do giá trị tài sản không cao, chị M không yêu cầu trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen máy cũ đã qua sử dụng và 01 dây cáp sạc màu trắng. Chiếc điện thoại bị cáo T mua tại cửa hàng “Đình Huynh” tại thị trấn H với giá 2.000.000 đồng, trong đó có 1.700.000 đồng là số tiền trộm cắp mà có, còn 300.000 đồng của chị Ma Thị Hồng H (là vợ của bị cáo) cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử trả lại chiếc điện thoại này cho bị cáo để bị cáo có điều kiện thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 2.020.000 đồng đã trộm của bị hại.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Lương Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Quang T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/4/2024;
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Lương Quang T phải trả cho chị Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng số tiền 2.020.000 đồng (Hai triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Trả cho chị Nông Thị M, sinh năm 1973, trú tại: Phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng 01 (một) đồng hồ đeo tay và 01 (một) đôi tai nghe Bluetooth.
- Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen máy cũ đã qua sử dụng và 01 dây cáp sạc màu trắng.
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/6/2024.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Quang T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Lương Quang T, bị hại Ngô Thị Thu H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nông Thị M có quyền kháng cáo bản án, chị Ma Thị Hồng H có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được trích sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thúy Quỳnh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Quang T - phạm tội Trộm cắp tài sản
