|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-6-2024 V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoa.
Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long và điểm cầu thành phần tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Tòa án nhân dân huyện Càng Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 205/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024, về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1974 (Có mặt tại điểm cầu thành phần UBND xã T).
- Bị đơn: Ông Ngô Văn S, sinh năm 1974 (Vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Đồng nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản khai và tại phiên tòa bà Bùi Thị H trình bày: Bà và ông Ngô Văn S do tự quen biết tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên đồng ý nên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tạp quán vào năm 1997 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nữ trang cưới gồm 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24Kra, số vàng này vợ chồng đã đồng ý bán hết để sử dụng chung trong gia đình hiện không còn.
Sau khi cưới bà và ông Sơn s hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau nên thường xuyên cự cải làm cho gia đình không hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay không hàn gắn được. Nhận thấy hai bên đã ly thân hơn mười năm, mạnh ai người đó sống, không ai quan tâm đến ai nên bà yêu cầu ly hôn với ông Ngô Văn S.
Về con chung: Bà H và ông S có 01 con chung tên Ngô Thị Kim N, sinh năm 1998 hiện đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Quá trình chung sống bà và ông S không tạo lập được tài sản chung, không thiếu nợ ai và cũng không ai thiếu nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23/5/2024 và tại phiên hòa giải bị đơn ông Ngô Văn S trình bày: Ông và bà Bùi Thị H do tự quen biết tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên đồng ý nên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tạp quán vào năm 1997 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nữ trang cưới gồm 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24Kra, số vàng này vợ chồng đã đồng ý bán hết để sử dụng chung trong gia đình hiện không còn.
Sau khi cưới ông với bà H sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong công việc làm ăn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau và không quan tâm đến nhau nên thường xuyên cự cải làm cho gia đình không hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông thì ông cũng đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: Một người tên Ngô Thị Kim N, sinh năm 1998 hiện con chung đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Quá trình chung sống ông và bà H không tạo lập được tài sản chung, không thiếu nợ ai và cũng không ai nợ ông bà.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu, không bổ sung, cung cấp chứng cứ gì mới tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Vị đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận bà Bùi Thị H và ông Ngô Văn S là vợ chồng. Ngoài ra, V đề nghị nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H đối với ông Ngô Văn S có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị H là nguyên đơn có mặt và ông Ngô Văn S là bị đơn vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và 228 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông S theo luật định.
- Về hôn nhân: Bà Bùi Thị H đối với ông Ngô Văn S chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn, sau khi tổ chức lễ cưới bà H, ông S chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình nên thường xuyên cự cải làm cho gia đình không được hạnh phúc mà không thể khắc phục được nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2010 đến nay không hàn gắn được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông S và ông S thống nhất ly hôn bà H. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng” nếu nam, nữ có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng. Từ đó, không có cơ sở giải quyết ly hôn theo yêu cầu của bà H và ông S mà căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà H với ông S.
- Về con chung: Một người tên Ngô Thị Kim N, sinh năm 1998 hiện đã trưởng thành, bà H và ông S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Bà Bùi Thị H và ông Ngô Văn S xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà H có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.
- Xét quan điểm của Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Bùi Thị H đối với ông Ngô Văn S.
- Về con chung: Một người tên Ngô Thị Kim N, sinh năm 1998 hiện đã trưởng thành, bà H và ông S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung; Về nợ chung: Bùi Thị H đối với ông Ngô Văn S xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003325, ngày 09 tháng 5 năm 2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long thu. Bà H đã nộp đủ án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nhật Thành |
Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn
- Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
