|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 38/2024/HS - ST Ngày: 09 - 8 - 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Toàn và ông Võ Văn Chí.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lê Hồng Q; tên gọi khác: không; sinh ngày 04 tháng 4 năm 1978, tại huyện L, tỉnh Quảng Bình;
Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị D; có vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1981 và có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2003, con thứ 2 sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/02/2004, Lê Hồng Q bị TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 20/3/2008, Lê Hồng Q bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 21/11/2008, Lê Hồng Q bị TAND tỉnh Quảng Bình xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 18/11/2010, Lê Hồng Q bị TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 60 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Cướp tài sản; Ngày 28/01/2015, Lê Hồng Q bị Công an thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 19/5/2020, Lê Hồng Q bi Công an huyện V, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị tạm giam từ ngày 06/6/2024, cho đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Như Q1; tên gọi khác: không; sinh ngày 18 tháng 11 năm 1995, tại huyện L, tỉnh Quảng Bình;
Nơi cư trú: Thôn U, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân K và bà Lê Thị H; có vợ Lê Thị H1, sinh năm 1996 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2015 nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án; tiền sự: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/6/2024, cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- Ông Ngô Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị L (vợ bị cáo Q), sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 11/4/2024, Nguyễn Như Q1, sinh năm: 1995, trú tại: thôn U, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình đi đến trại cá của Lê Hồng Q, sinh năm: 1978, trú tại: thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/4/2024, Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 rủ nhau đi trộm chó để làm thịt ăn nhậu. Sau đó, Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 chuẩn bị công cụ, phương tiện gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter Fi, màu đen, biển số đăng ký 14X1 - 500.27 (Xe mô tô của chị L, vợ Q), Lê Hồng Q sử dụng biển số 75K7 - 6926 lắp chồng lên trên biển số 14X1 - 500.27, 01 (một) cái bao lác màu đỏ, 01 (một) cái thòng lọng, 01 (một) cuộn băng dán màu đen, 01 (một) cái đèn pin để trộm cắp tài sản. Q điều khiển xe mô tô lắp BKS: 75K7 - 6926 chở Q1 đến thôn P, xã H bắt trộm 01 (một) con chó của anh Nguyễn Đình C, sinh năm: 1988, trú tại thôn P, xã H. Sau đó, Q và Q1 tiếp tục chạy đến thôn T, xã N bắt trộm 01(một) con chó của chị Nguyễn Thị S, sinh năm: 1972 và một con chó của anh Ngô Văn T, sinh năm: 1966, đều trú tại: thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Q chở Q1 quay lại trại cá của Q ở xã M, huyện L. Khi đi đến thôn M, xã M, huyện L thì Q và Q1 bị tổ công tác của Công an huyện L phát hiện, yêu cầu dừng xe kiểm tra, Q và Q1 không chấp hành việc kiểm tra của lực lượng Công an, để lại xe mô tô và bao lác màu đỏ bên trong có 03 (ba) con chó rồi bỏ chạy. Lê Hồng Q đã bị lực lượng Công an khống chế ngay sau đó. Nguyễn Như Q1 bỏ chạy về nhà. Đến 16 giờ ngày 12/4/2024, Nguyễn Như Q1 đã đến Công an huyện L để đầu thủ. Quá trình bỏ chạy, Lê Hồng Q đã làm rơi đèn pin, Nguyễn Như Q1 đã vứt cái thòng lọng ở đoạn đường đi lên cầu M thuộc thôn M, xã M, huyện L và làm rơi cuộn băng dán màu đen. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện được. Tại Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của HDĐGTS trong TTHS huyện L xác định: 03 (ba) con chó có giá trị 2.496.000 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Việc tạm giữ, thu giữ và xử lý vật chứng:
Ngày 13/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ 03 (ba) con chó, 01(một) xe mô tô, 01(một) biển số xe mô tô, 01(một) bao lác (Tất cả có đặc điểm như Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu.
Ngày 07/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại 03 (ba) con chó nói trên cho ông Nguyễn Đình C, ông Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị S là chủ sở hữu tài sản.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Đình C, Nguyễn Thị S, Ngô Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Bà Hoàng Thị L đề nghị được trả lại xe mô tô BKS: 14X - 500.27.
Bản Cáo trạng số 28/CT- VKSNDLT ngày 04/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy đã truy tố các bị cáo Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Qua tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Hồng Q từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Như Q1 từ 12 đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ, về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại cho bà Hoàng Thị L 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter FI, BKS 14X1- 500.27, xe đã qua sử dụng. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 biển số xe mô tô, kích thước 19cm x 14cm, nền màu trắng, có các ký tự màu đen như sau: 75-K7 6926; 01 bao lác màu đỏ, kích thước 1,2m x 0,6m, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội. Đề nghị khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Như Q1 theo quy đinh của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt phù hợp cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 đã khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/4/2024, các bị cáo Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 đã rủ nhau thực hiện hành vi trộm cắp chó của người dân nuôi trên đại bàn, với mục đích làm thịt ăn nhậu. Các bị cáo đã chuẩn bị các công cụ phạm tội gồm gồm 01 Xe mô tô 14X1 – 500.27 (xe mô tô của chị L, vợ bị cáo Q), Lê Hồng Q sử dụng biển số 75K7-6926 lắp chồng lên trên biển số 14X1 - 500.27; 01 bao lác màu đỏ, 01 đèn pin, 01 cái thòng lọng (gồm một đoạn thép buộc thòng lọng gắn vào một thanh gỗ dài khoảng 01 mét), 01 cuộn băng dán màu đen. Lê Hồng Q điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Như Q1 đến địa phận xã H, xã N để thực hiện hành vi bắt trộm chó. Bằng công cụ như trên, Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 đã bắt trộm tổng cộng 3 con chó, gồm: 01 con chó đực, lông màu vàng, nặng 14,6 kg của ông Nguyễn Đình C, tại Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình; 01 con chó đực lông màu vàng, nặng 10 kg của bà Nguyễn Thị S và 01 con chó đực, lông màu đen, nặng 17kg của ông Ngô Văn T cùng ở thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Tại Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của HĐĐGTS trong TTHS huyện L xác định: 03 (ba) con chó có giá trị 2.496.000 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo Q và Q1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo Q và Q1 là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ cá nhân, vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Đây là vụ án có đồng phạm đơn giản, quá trình thực hiện tội phạm tỏ ra tích cực, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác phục vụ cho mục đích cá nhân.
Đối với bị cáo Lê Hồng Q: Là người chủ động chuẩn bị công, cụ phương tiện như xe mô tô, bao lác màu đỏ và đèn pin để đi trộm cắp tài sản và chủ động chở bị cáo Nguyễn Như Q1 đi thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo Lê Hồng Q có nhân thân xấu, trước đây đã nhiều lần bị xử lý hình sự về hành vi Trộm cắp tài sản và hành vi Cướp tài sản và xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm răn đe và giáo dục chung, phù hợp tính chất, vai trò và mức độ phạm tội của bị cáo đã thực hiện trong vụ án. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ này để xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Như Q1: Đã tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với vai trò thực hành tích cực, tuy có thấp hơn so với bị cáo Q, thể hiện ở việc bị cáo chuẩn bị các công cụ như cuộn băng dán màu đen, thòng lọng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc, tương xứng với vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, vai trò mức độ phạm tội có phần hạn chế hơn so với bị cáo Q. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã tự nguyện đầu thú, trong quá trình giải quyết vụ án luôn tỏ thái độ thành khẩn khai báo về hành vi của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần chiếu cố đối với bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là đúng mức, thể hiện chính sách khoan khoan hồng của pháp luật, phát huy tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Theo quy định của pháp luật, đối với hình phạt Cải tạo không giam giữ, phải khấu trừ thu nhập hàng tháng. Tại phiên tòa, qua khai báo bị cáo Q1 thừa nhận bản thân làm nghề nuôi cá của gia đình, có thu nhập tính bình quân khoảng 3.000.000/tháng. Vì vậy, cần khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Q1 5%/tháng đối với khoản thu nhập này, tương ứng với thời gian chấp hành hình phạt, theo quy định của pháp luật.
[4] Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ một số vật chứng của vụ án; một số vật chứng đã được cơ quan điều tra xử lý trong quá trình điều tra. Hiện tại còn một số vật chứng được chuyển theo hồ sơ vụ án. Qua xét xử, Hội đồng xét xử quyết định xử lý số vật chứng này như sau:
- - Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter FI, BKS 14X1- 500.27, xe đã qua sử dụng; tại phiên tòa chị Hoàng Thị L (vợ của bị cáo Q) trình bày: Chiếc xe là tài sản của chị bỏ tiền ra mua lại tại cửa hàng xe máy Nhật Vy T, địa chỉ tại C N (A G), phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 21/02/2024, việc bị cáo Q dùng chiếc xe này để làm phương tiện trộm cắp tài sản chị hoàn toàn không biết. Nguyện vọng của chị xin được nhận lại chiếc xe để làm phương tiện phục vụ cuộc sống. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận.
- - Đối với 01 biển số xe mô tô, kích thước 19cm x 14cm, nền màu trắng, có các ký tự màu đen như sau: 75-K7 6926; bị cáo Lê Hồng Q khai nhặt tại xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Theo thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng của công an huyện L: Xe mô tô BKS 75k7 - 6926 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng (theo cơ sở dữ liệu lưu trữ tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 tính đến ngày 04/6/2024). Xét vật chứng này là công cụ phạm tội, không còn giá trị, không được lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 bao lác màu đỏ, kích thước 1,2m x 0,6m, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Những vật chứng khác như đèn pin, thòng lọng và cuộn băng dán màu đen mà các bị cáo làm rơi trong quá trình bỏ chạy, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đình C, bà Nguyễn Thị S, ông Ngô Văn T đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[7] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Hồng Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày tạm giam 06/6/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Lê Hồng Q 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo thi hành án (có Quyết định tạm giam riêng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q1 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Nguyễn Như Q1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập đối với Nguyễn Như Q1 số tiền 150.000 đồng/tháng, trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ.
Thời hạn thi hành hình phạt Cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án và bản án của Tòa án.
Trong trường hợp người chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ vắng mặt, thay đổi nơi cư trú hoặc làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Hồng Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày tạm giam 06/6/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự xử:
- - Trả lại cho chị Hoàng Thị L 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter FI, BKS 14X1- 500.27, xe đã qua sử dụng;
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số xe mô tô, kích thước 19cm x 14cm, nền màu trắng, có các ký tự màu đen như sau: 75-K7 6926 và 01 bao lác màu đỏ, kích thước 1,2m x 0,6m, đã qua sử dụng;
(Các vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, có số lượng, đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08/7/2024 giữa Công an huyện L, tỉnh quảng B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Hồng Q và Nguyễn Như Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/8/2024); bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 38/2024/HS - ST ngày 09/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 38/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án hình sự tội trộm cắp tài sản
