|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nước
Ông Ngô Công Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Võ Văn Ú, sinh ngày 12/7/1996 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm B, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Nuôi tôm; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc S (chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ ngày 22/01/2024, đến ngày 25/01/2024 chuyển tạm giam đến nay. (có mặt)
- Nguyễn Hữu N, sinh ngày 01/01/1996 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; vợ là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1999 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 22/01/2024, bị cáo Nguyễn Hữu N điều khiển xe Môtô hiệu Honda, loại WINER X màu đỏ đen, biển số 84M1 - 217.08 của Nguyễn Thị N1 (vợ N) đến nhà của bị cáo Võ Văn Ú ở Khóm B, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh để rủ Ú sử dụng ma túy. Đến khoảng hơn 10 giờ ngày 22/01/2024 N điều khiển xe đến đường vào nhà Ú đậu xe tại đây, rồi N đi bộ vào nhà Trần Thị H1, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú ở khóm C, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh, tạm trú ở Khóm B, Phường B, thị xã D, gần nhà Ú để mua 01 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy của H1 thì bị cáo N đi bộ qua nhà Ú rồi rủ Ú sử dụng, Ú đồng ý và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra rồi Ú cắt đoạn ống hút có chứa ma túy của N đưa, rồi đổ vào bình sử dụng ma túy có cắm cái nỏ bằng thủy tinh và dùng hột quẹt đốt, nung ma túy lên rồi Ú, N cùng sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 22/01/2024 khi N, Ú đang sử dụng ma túy thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ niêm phong 01 nỏ bằng thủy tinh được cắm trong bình sử dụng ma túy vẫn còn tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy và thu giữ tang vật có liên quan. Ngoài ra khi Công an kiểm tra tại nhà ở của bị cáo Ú còn phát hiện, thu giữ niêm phong các vật chứng gồm:
- - 01 vỏ thuốc lá màu trắng hiệu JET bên trong có 06 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu có chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy và 04 đoạn ống hút màu đỏ được hàn kín hai đầu có chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy.
- - 01 khẩu trang y tế màu xanh bên trong khẩu trang có 04 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu có chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy và 01 túi Zip kích thước (10×17)cm trên túi Zip có dòng chữ “COTTON BUDS Hello CTY TNHH MTVSX- TM THỊNH PHÁT” bên trong túi Zip có 10 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu có chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo N và bị cáo Ú khai nhận tinh thể rắn trong suốt chứa trong 01 nỏ bằng thủy tinh được cắm trong bình sử dụng ma túy đã được niêm phong là ma túy đá, do N bỏ tiền mua rồi đem lại nhà bị cáo Ú để rủ Ú sử dụng, khi được N rủ sử dụng ma túy thì Ú đồng ý nên mới lấy bộ dụng cụ rồi cả hai cùng sử dụng. Đối với tinh thể rắn trong suốt chứa trong 10 đoạn ống hút được để trong 01 vỏ thuốc lá màu trắng hiệu JET và tinh thể rắn trong suốt chứa trong 14 đoạn ống hút, túi Z đã được niêm phong thì Ú khai nhận số ma túy này có được là vào ngày 21/01/2024 bị cáo Ú trực tiếp mua của người thanh niên tên C (không rõ nhân thân lai lịch) ở ngã tư Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, sau đó Ú mượn cái cân điện tử tiểu ly của Trần Thị Huỳnh c ra để dành sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 44/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đã kết luận:
- - Gói 1: Tinh thể rắn trong suốt chứa trong 10 đoạn ống hút được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine tổng khối lượng là 1,6706 gam.
- - Gói 2: Tinh thể rắn trong suốt chứa trong 14 đoạn ống hút được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine tổng khối lượng là 1,5536 gam.
- - Gói 3: Tinh thể rắn trong suốt chứa trong 01 nỏ bằng thủy tinh được niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,0292 gam.
Đối với hành vi của Trần Thị Huỳnh b ma túy cho bị cáo Nguyễn Hữu N thì Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Trần Thị H1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy bằng một vụ án khác. Đối với hành vi của Trần Thị H1 cho bị cáo Võ Văn Ú mượn cái cân điện tử tiểu ly, do Trần Thị H1 không biết bị cáo Út mượn cái cân để làm gì nên không có đồng phạm trong vụ án, Trần Thị H1 không yêu cầu nhận lại 01 cái cân điện tử tiểu ly. Đối với Nguyễn Thị N1 không biết bị cáo N sử dụng chiếc xe Môtô hiệu Honda, loại WINER X màu đỏ đen, biển số 84M1 - 217.08 để mua ma túy sử dụng nên không có đồng phạm trong vụ án.
Tại Cáo trạng số: 58/CT-VKS-HS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Võ Văn Ú tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu N và Võ Văn Ú đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng hai bị cáo trình bày là đã biết lỗi và ăn năn về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn Ú từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với hai tội danh.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu N và Võ Văn Ú đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố, cụ thể vào khoảng hơn 10 giờ ngày 22/01/2024 sau khi bị cáo Nguyễn Hữu N mua của Trần Thị H1 01 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy thì N đến nhà của bị cáo Võ Văn Ú ở Khóm B, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh để rủ bị cáo Ú sử dụng ma túy và Ú đồng ý nên lấy bộ dụng cụ có sẵn trong nhà của Ú rồi cả hai cùng nhau sử dụng ma túy, đến khoảng 11 giờ ngày 22/01/2024 khi hai bị cáo đang sử dụng ma túy thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ niêm phong một nỏ bằng thủy tinh, được cắm trong bình sử dụng ma túy vẫn còn 0,0292 gam ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra, kiểm tra tại nhà của bị cáo Ú còn phát hiện 3,2242 gam ma túy loại Methamphetamine được để trong 01 vỏ thuốc lá màu trắng hiệu JET và trong 01 khẩu trang y tế màu xanh do bị cáo Ú mua về tàng trữ để nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/01/2024; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể hai bị cáo cũng như Kết luận giám định chất ma túy của Phòng K - Công an tỉnh T...
Do đó, có cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu N và Võ Văn Ú đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Võ Văn Ú còn phạm thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, cả hai bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân đã mua ma túy và chuẩn công cụ để tổ chức cho 02 bị cáo cùng sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Ú còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của mình với mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, không những vậy hành vi này còn trực tiếp làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của các bị cáo, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cả hai bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điềm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Ú có cậu ruột là liệt sĩ, là người có công với cách mạng được nhà nước ghi nhận công lao, ngoài ra cả hai bị cáo đều là lao động chính trong gia đình nên được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giam nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng là tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[4] Về vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định, bộ dụng cụ sử dụng ma túy và cái cân tiểu ly là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có khiếu nại hoặc tố cáo đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Đồng thời, các hoạt động thu thập chứng cứ đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Võ Văn Ú phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với bị cáo Nguyễn Hữu N:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.
Đối với bị cáo Võ Văn Ú:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Võ Văn Ú 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Võ Văn Ú 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo Võ Văn Ú phải chịu hình phạt chung là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - Tinh thể rắn trong suốt (sau giám định) có khối lượng 1,6476 gam và vỏ gói thuốc lá hiệu JET được để trong túi niêm phong số 44/2024/M1 ghi ngày 25/01/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Hồng N2.
- - Tinh thể rắn trong suốt (sau giám định) có khối lượng 1,5192 gam và 01 khẩu trang y tế màu xanh, 01 túi Zip kích thước (10× 17)cm trên túi Zip có dòng chữ “COTTON BUDS Hello CTY TNHH MTVSX- TM THỊNH PHAT” được để trong túi niêm phong số 44/2024/M2 ghi ngày 25/01/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Hồng N2.
- - 01 cái nỏ bằng thủy tinh, 01 bình nhựa, 01 ly thủy tinh, 01 ống hút màu cam được để trong túi niêm phong số 44/2024/M3 ghi ngày 25/01/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Hồng N2.
- - 01 ống quẹt bị cắt phần đầu không rõ nhãn hiệu dài 08cm, 01 ống quẹt màu xanh nhãn hiệu Vạn Xuân dài 08cm, 01 cái cân điện tử tiểu ly có nắp màu xanh loại 100G × 0.001G kích thước (12×7) cm.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Võ Văn Ú và Nguyễn Hữu N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Ngô Công Bình |
Trần Văn Nước |
Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Nghị phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Võ Văn Út phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với bị cáo Nguyễn Hữu Nghị: - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Nghị 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2024. Đối với bị cáo Võ Văn Út: - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Văn Út 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Văn Út 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo Võ Văn Út phải chịu hình phạt chung là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
