Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 08-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Chang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Trung;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vương Văn T, sinh ngày 01/8/1986 tại Bình Dương; nơi thường trú: Áp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: Áp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 31/5/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 (bốn) tháng tù tại bản án số 27/2012/HSST, ngày 10/6/2012 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 14/11/2012, đã chấp hành đóng án phí và hình phạt bổ sung, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Võ Hoàng G (tên gọi khác: H), sinh ngày 02/9/1985 tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện tại: Ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Mua mì; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 16/3/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Tổ chức

1

đánh bạc” tại Bản án số 65/2018/HSPT (do Bản án số 45/2017/HSST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/02/2019. Ngày 05/02/2024 mới chấp hành xong hình phạt bổ sung, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không;

Về nhân thân:

Ngày 11/01/2017, bị công an xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc, bị cáo đã nộp tiền phạt ngày 05/5/2017.

Ngày 23/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt của 03 tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù tại Bản án số 37/2005/HSST. Đã chấp hành xong bản án ngày 26/5/2009, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Hữu P, sinh ngày 20/7/1987 tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Kim P1, sinh năm 1967; có vợ là Đinh Ngọc T1, sinh năm 1989 và có 02 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 23/4/2021, bị công an huyện T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt hành chính số 03/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã nộp tiền phạt ngày 26/4/2021, biên lai thu tiền phạt số 0012438.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 18/8/1995 tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Bé S1, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Lê Diễm S2, sinh năm 1996 và có 02 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 31/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 08/2017/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2017, ngày 22/6/2017 đã chấp hành đóng án phí, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

5. Họ và tên: Lê Quốc Đ, sinh ngày 16/8/2001 tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện tại: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Kim T4, sinh năm 1963 và bà Phan Thị M1, sinh năm 1960; tiền án: Không, tiền sự: Không.

2

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

6. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ1, sinh ngày 04/7/1990 tại Bình Dương; nơi thường trú: Ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Mua cây; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T5, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Trần Thu P2, sinh năm 1997; tiền án: Không, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 08/6/2012, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 111/2012/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015, chấp hành xong án phí ngày 18/10/2012, trách nhiệm dân sự ngày 01/02/2013, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

7. Họ và tên: Trần Văn Thanh D, sinh ngày 15/5/1993 tại Tiền Giang; nơi thường trú: 72B, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; nơi ở hiện tại: Ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T6 và bà Huỳnh Thị Ngọc L2, sinh năm 1971; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Diễm S2, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1966; Nơi thường trú: Số C, ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

3. Bà Hà Thu Đ2, sinh năm 1973; Nơi thường trú: Áp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

4. Ông Phạm Sơn H2, sinh năm 1977; nơi thường trú: Ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

5. Bà Nguyễn Thị Cẩm M2, sinh năm 1990; nơi thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/01/2024, Vương Văn T đến nhà Phạm Sơn H2ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương chơi. Tại đây, bị cáo T gặp Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Ngọc T2, Trần Văn Thanh D đang ngồi nhậu bên hông nhà. Đến 14 giờ cùng ngày, các bị cáo rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu. Bị cáo T đi mua bộ lắc tài xỉu về, sau đó bị cáo T cùng các bị cáo Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Ngọc T2, Trần Văn T7 Dân chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền.

Hình thức chơi đánh bạc lắc tài xỉu như sau: Bị cáo Vương Văn T làm cái, bị cáo lấy ba hột xí ngầu đỏ - đen và 01 cái dĩa, T bỏ 03 hột xí ngầu lên cái dĩa nhỏ rồi

3

dùng cái nắp úp lên và lắc đều ba hột xí ngầu đặt dĩa lên trên bàn để cho các con bạc đặt tiền cá cược theo bên tài hoặc bên xỉu tùy ý, mỗi ván mỗi con bạc đặt cược với số tiền thấp nhất là 30.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Sau khi các con bạc đặt tiền xong thì bị cáo T mở nắp ra tính số chấm trên 03 mặt ngửa của 03 hột xí ngầu để tính thắng thua. Cộng số chấm mặt trên của 03 hột xí ngầu lại, nếu tổng số chấm từ 10 điểm trở xuống là xỉu, 11 điểm trở lên là tài. Nếu con bạc đặt cửa tài mà kết quả là xỉu thì con bạc thua và phải đưa cho nhà cái số tiền mà con bạc đã đặt, còn nếu kết quả là xỉu thì con bạc thắng và được nhà cái chung (đưa) lại số tiền bằng với số tiền mà con bạc đã đặt và ngược lại. Kết thúc mỗi ván, bị cáo T sẽ lắc dĩa để chơi lại ván khác. Khoảng 15 giờ ngày 10/01/2024, Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện P nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có một nhóm đang đánh bạc thắng thua bằng tiền ở ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, Đ3 Công an huyện P, tỉnh Bình Dương phối hợp với Công an xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương tiến hành bắt quả tang Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D, Vương Văn T, Nguyễn Ngọc T2 đang đánh bạc thắng thua bằng tiền.

Cơ quan Công an thu giữ:

- Số tiền 200.000 đồng tại chiếu bạc;

- 01 (một) nắp nhựa bên ngoài sọc màu trắng đen, bên trong màu xanh đã qua sử dụng

- Thu giữ tổng số tiền là 18.360.000 đồng trên người các bị cáo, gồm:

+ Thu giữ trên người của Vương Văn T 3.200.000 đồng;

+ Thu giữ trên người của Võ Hoàng G số tiền 6.000.000 đồng;

+ Thu giữ trên người của Nguyễn Hữu P số tiền 6.000.000 đồng;

+ Thu giữ trên người của Nguyễn Ngọc T2 số tiền 1.200.000 đồng;

+ Thu giữ trên người của Lê Quốc Đại số tiền 700.000 đồng;

+ Thu giữ trên người Nguyễn Ngọc Đ1 số tiền 800.000 đồng;

+ Thu giữ trên người của Trần Văn T7 Dân số tiền 460.000 đồng.

- 01 (một) xe mô tô biển số 69P1-372.41 của Lê Quốc Đ;

- 01 (một) xe mô tô biển số 66C1-636.10 của Nguyễn Ngọc T2;

- 01 (một) xe mô tô biển số 61F1-511.93 của Nguyễn Ngọc Đ1;

- 01 (một) xe mô tô biển số 61F1-270.49 của Vương Văn T.

Quá trình điều tra xác định:

1. Vương Văn T mang theo số tiền 3.000.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị Công an bắt quả tang, T cầm 01 cái dĩa và 03 hột xí ngầu vứt bỏ phía sau nhà Phạm Sơn H2 không thu giữ được nên Cơ quan Công an lập biên bản thu giữ vật chứng không thành, thu giữ trên người của T số tiền 3.200.000 đồng.

2. Võ Hoàng G mang theo số tiền 6.000.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc, Gia thắng được 200.000 đồng để ngoài chiếu bạc. Khi bị Công an bắt quả tang thu giữ trên người của Gia số tiền 6.000.000 đồng.

4

3. Trước khi tham gia đánh bạc Nguyễn Hữu P mang theo 250.000 đồng, Võ Hoàng G trả cho P tiền công nhổ mì 5.950.000 đồng của PNguyễn Thị Cẩm M2, là người cùng làm thue cho bị cáo G, tổng số tiền trong người của P là 6.200.000 đồng. Khi tham gia đánh bạc, P sử dụng 1.900.000 đồng vào mục đích đánh bạc, P thua 200.000 đồng. Khi Công an bắt quả tang thu giữ trên người của P 6.000.000 đồng.

4. Nguyễn Ngọc T2 mang theo số tiền 1.300.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc, T2 thua 100.000 đồng. Khi bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ trên người của Thuấn số tiền 1.200.000 đồng

5. Lê Quốc Đ mang theo số tiền 500.000 đồng. Khi tham gia đánh bạc, Đ sử dụng 500.000 vào mục đích đánh bạc. Khi bị Công an bắt quả tang thu giữ trên người của Đại số tiền 700.000 đồng;

6. Trước khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Ngọc Đ1 mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc, thua 02 ván 200.000 đồng, Đ1 nghỉ chơi ra võng nằm. Khi bị công an bắt quả tang thu giữ trên người của Đẳng số tiền 800.000 đồng;

7. Trần Văn T7 D mang theo số tiền 560.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc, D thua 100.000 đồng. Khi Công an bắt quả tang thu giữ trên người của D số tiền 460.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Hữu P, Lê Quốc Đ, Võ Hoàng G, Nguyễn Ngọc T2, Trần Văn Thanh D, Vương Văn T sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.260.000 đồng.

Cáo trạng số 32/CT-VKSPG ngày 22/3/2024 của kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng và nêu quan điểm: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng tới an toàn, trật tự xã hội trong khu vực. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D phạm tội đánh bạc. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét về nhân thân của các bị cáo, đề nghị:

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vương Văn T từ 07 (bảy) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Hoàng G từ 09 (chín) tháng tù đến 11 (mười một) tháng tù.

5

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) tháng tù.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T2 từ 07 (bảy) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quốc Đại t 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) tháng tù.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 từ 07 (bảy) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Thanh D từ 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) tháng tù.

Đồng thời, đề nghị HĐXX xử lý vật chứng: Tổng số tiền 18.560.000 đồng trong đó số tiền 14.260.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước, còn lại 4.050.000 đồng số tiền công nhổ mì của bà Nguyễn Thị Cẩm M2, số tiền 250.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu P, không sử dụng vào mục đích đánh bạc đề nghị trả lại cho bà M2 và bị cáo P. Đối với 01 (một) nắp nhựa bên ngoài sọc màu trắng đen, bên trong màu xanh đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 cái dĩa, 03 hột xí ngầu, khi Công an vào bắt quả tang, bị cáo Vương Văn T đã cầm dĩa và 03 hột xí ngầu vứt bỏ phía sau nhà ông Phạm Sơn H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu giữ được nên đã lập biên bản thu giữ vật chứng không thành.

Đối với ông Phạm Sơn H2 cho Võ Hoàng G ở nhờ để mua mì, ông H2 không biết bị cáo G cùng các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Hữu P, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc T2, Trần Văn Thanh D, Vương Văn T đánh bạc thắng thua bằng tiền tại nhà của mình, đồng thời vào ngày 10/01/2024, ông H2 đi ra ngoài làm việc, không có mặt ở nhà. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do

6

đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong hồ sơ đã có lời khai việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 10/01/2024, tại nhà của ông Phạm Sơn H2 thuộc ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.260.000 đồng thì bị cơ quan công an bắt quả tang.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Các bị cáo biết hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

[4] Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, không phải là có tổ chức. Tuy nhiên, cần căn cứ vào Điều 53 của Bộ luật Hình sự cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội, bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Bị cáo T là người trực tiếp mua bộ lắc tài xỉu, đồng thời bị cáo T là người trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo khác, là người làm cái nên vai trò của bị cáo T cao hơn các bị cáo khác. Các bị cáo Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D cùng tham gia đánh bạc và có vai trò như nhau trong vụ án.

[5] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Các bị cáo ý thức được hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. HĐXX xét thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

[5.1] Bị cáo T có nhân thân xấu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Bị cáo G, có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

7

[5.3] Bị cáo P có nhân thân xấu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.4] Bị cáo T2 có nhân thân xấu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.5] Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.6] Bị cáo Đ1 có nhân thân xấu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.7] Bị cáo D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 4.050.000 đồng số tiền công nhổ mì của bà Nguyễn Thị Cẩm M2 do bị cáo P nhận thay bà M2 từ bị cáo G, nên HĐXX xem xét trả lại số tiền 4.050.000 đồng cho bà M2.

Đối với số tiền 250.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu P đem theo khi đến nhà bị cáo G, khi được trả tiền công bị cáo để chung với số tiền công được trả, tổng cộng là 6.200.000 đồng, bị cáo lấy ra 200.000 đồng, còn lại 6.000.000 đồng bị cáo để trong túi quần, trừ đi số tiền công của bà M2 bị cáo nhận thay là 4.050.000 đồng, số tiền còn lại của bị cáo P là 2.150.0000 đồng, bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo P số tiền 250.000 đồng nhưng HĐXX xét thấy, bị cáo P đem theo là 250.000 đồng và số tiền bị cáo G trả cho bị cáo là 1.900.000 đồng bị cáo P sử dụng đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Do đó, tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 14.510.000 đồng, HĐXX tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) nắp nhựa bên ngoài sọc màu trắng đen, bên trong màu xanh đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) cái dĩa, 03 (ba) hột xí ngầu. Khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P vào bắt quả tang, bị cáo Vương Văn T đã cầm dĩa và 03 hột xí ngầu vứt bỏ phía sau nhà ông Phạm Sơn H2, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu giữ được nên đã lập biên bản thu giữ vật chứng không thành nên không xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 69D1-372.41 thu giữ của Lê Quốc Đ. Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 69D1-372.41 do bà Hà Thu Đ2, sinh năm 1973, hộ khẩu thường trú: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng tên chủ sở hữu. Cuối năm 2023, bà

8

Đ2 đã bán xe mô tô trên cho bị cáo Lê Quốc Đ với số tiền 8.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 10/1/2024, bị cáo Lê Quốc Đ điều khiển xe mô tô trên đến nhà ông H2 để nhậu, sau đó tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Xét thấy, xe mô tô biển số 69D1-372.41 là tài sản của bị cáo Lê Quốc Đ không liên quan đến việc phạm tội, ngày 08/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho bị cáo Đ, HĐXX xét thấy việc trả lại tài sản cho bị cáo Đ đúng quy định pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 66C1-636.10 do Lê Diễm S2 (vợ của bị cáo T2) mua và đứng tên chủ sở hữu. Đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo T2. Ngày 10/01/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc T2 điều khiển xe mô tô trên đến nhà của ông Phạm Sơn H2 chơi rồi tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Xét thấy, xe mô tô trên không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 08/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho bà Lê Diễm S2. HĐXX xét thấy việc trả lại tài sản cho bà S2 đúng quy định pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 61F1-511.93 do bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 10/01/2024, bị cáo Đ1 điều khiển xe mô tô trên đến nhà ông Phạm Sơn H2 chơi, sau đó tham gia đánh bạc. Xét thấy, xe mô tô trên là tài sản của Nguyễn Ngọc Đ1 không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 08/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho bị cáo Đ1. HĐXX xét thấy việc trả lại tài sản cho bị cáo Đ1 đúng quy định pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 61F1-270.49 do bà Nguyễn Thị Phương L (mẹ của bị cáo Vương Văn T đứng tên chủ sở hữu), bà L mua xe vào năm 2016 với số tiền 18.000.000 đồng. Sau đó, bà L cho bị cáo T xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. Ngày 10/01/2024, bị cáo Vương Văn T điều khiển xe mô tô đến nhà ông Phạm Sơn H2 chơi, sau đó tham gia đánh bạc. Xét thấy xe mô tô trên là tài sản của bị cáo Vương Văn T không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 08/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho bị cáo T. HĐXX xét thấy việc trả lại tài sản cho bị cáo T đúng quy định pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với ông Phạm Sơn H2 cho bị cáo G ở nhờ nhà của ông H2 tại ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà của ông H2 nên không đặt ra xem xét đối với ông H2.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

9

1. Tuyên bố các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Vương Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Hoàng G 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

2.3 Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

2.4 Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T2 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

2.5 Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

2.6 Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

2.7 Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Thanh D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 14.510.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm mười nghìn đồng).

3.2 Trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm M2 số tiền 4.050.000 đồng (bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

(Theo Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 26/3/2024 tại Kho bạc Nhà nước P3).

10

3.3 Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nắp nhựa bên ngoài sọc màu trắng đen, bên trong màu xanh .

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/3/2024).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vương Văn T, Võ Hoàng G, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Ngọc T2, Lê Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Đ1, Trần Văn Thanh D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo;
  • - Công an huyện Phú Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã (phường) nơi thường trú của các bị cáo (thay Thông báo);
  • - Lưu: hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Chang

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Văn T và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger