|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 38/2024/HSST Ngày: 07/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Khưu Liên Dung
- Bà Dư Thị Út
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Danh Sà T – sinh ngày 23/04/2001 (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác); N sinh: tỉnh Sóc Trăng. HKTT và nơi ở hiện tại: Ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; cha là ông Thạch Na S, sinh năm 1977, mẹ là bà Danh Thị Sà P, sinh năm 1980; Vợ là Lục Thị Như Ý, sinh năm 2000, có 1 con, sinh năm 2023; Tiền sự, Tiền án: không.
Nhân thân ngày 16/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, ra Quyết định số: 460/QĐ-TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, đã chấp hành xong ngày 19/6/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 21/9/2023, khởi tố bị can áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; sau đó bị cáo D Sà T bỏ trốn và bị bắt theo Quyết định truy nã, bị tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 24/02/2024 chuyển tạm giam đến nay tại nhà Tạm giữ Công an thành phố B, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo là bà Trịnh Hồng N1 – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.
Địa chỉ: Số F, đường N, khóm G, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Danh Sà T và người thanh niên tên C (không rõ nhân thân) quen biết nhau từ năm 2019, cả hai đều sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ, ngày 19/9/2023, D Sà T và C uống nước tại ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, C rủ T đi mua ma túy về cùng sử dụng, T đồng ý. C đưa cho T 600.000đ để mua ma túy và điều khiển xe mô tô loại Wave, không rõ biển kiểm soát chở T đến căn nhà bỏ hoang ở ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, gặp người tên L (quen biết với C trước đó, không rõ nhân thân) để mua ma túy. Khi đến nơi, C dừng xe đợi, T đi vào nhà gặp L mua ma túy với số tiền 600.000đ, L đưa cho T 01 bịch nylon màu trắng bên trong có 03 bịch nylon nhỏ màu trắng chứa ma túy đá. The cất giấu vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, lên xe cùng với C đi đến Nhà trọ M, thuộc ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để thuê phòng cùng sử dụng ma túy. Khi đến trước nhà trọ, do C quên đem giấy tờ cá nhân nên kêu T đứng đợi C. Đến khoảng 13 giờ 20 phút ngày 19/9/2023, T bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần The 01 bịch nylon màu trắng, có kích thước 6cm x 9,2cm, bên trong có 03 bịch nylon màu trắng hàn kín hai đầu, lần lượt có kích thước 1cm x 2,5cm, 1,1cm x 2,6cm và 1cm x 2,5cm, đều có chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.
Theo kết quả của phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 20/9/2023 của Trung tâm Y tế thành phố B cho thấy Danh S1 The dương tính với chất ma túy Methamphetamine MET và Amphetamine AMP. Tại bản Kết luận giám định số: 119/KL – KTHS, ngày 27/9/2023, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể, bên trong 03 bịch ny lon màu trắng, kích thước 1cm x 2,5cm, 1,1cm x 2,6cm và 1cm x 2,5cm gửi giám định, là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,41950 gam”. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của cơ quan chuyên môn.
Quá trình điều tra, Danh Sà T thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy, ngày 19/9/2023 T mua 600.000 đồng ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang tại Nhà nghỉ M1 thuộc ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Bản cáo trạng số: 52/CT-VKS-HS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo D Sà The về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Danh Sà T khai nhận hành vi phạm tội của mình như các lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và như nội dung tại Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Đồng thời, tại phiên tòa bị cáo Danh Sà T xác định: Số ma túy bị cáo mua nhằm mục đích sử dụng cá nhân, không vì mục đích nào khác, bị cáo là người nghiện ma túy đã sử dụng ma túy từ năm 2019 đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, sau khi nêu tóm tắt nội dung và phân
2
tích tính chất của vụ án, những tình tiết về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật vẫn giữ nguyên quan điểm theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Danh Sà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Danh S1 The mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- - Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- Đối với người thanh niên tên C đưa tiền và điều khiển xe mô tô chở bị cáo T đi mua ma túy và người thanh niên đã bán ma túy cho T, không rõ nhân thân, lai lịch nên không làm việc được nên điều tra xử lý sau.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày nội dung nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc có trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật hạn chế. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cho bị cáo. Về án phí, bị cáo là người dân tộc thuộc vùng kinh tế khó khăn và có đơn xin miễn án phí, đề nghị cho bị cáo được miễn án phí.
Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Dó đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Danh Sà T đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 19/9/2023 tại nhà trọ M thuộc ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Danh Sà T có hành vi tàng trữ cất giấu ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,41950 gam mục đích dùng cho bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm khi sử dụng ma túy, việc cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện
3
pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc nên bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, lẽ ra bị cáo phải biết tu sửa bản thân, rèn luyện để giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến đời sống xã hội do ma túy là chất gây nguy hại cho con người và còn là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Hơn nữa, sau khi phạm tội, bị cáo lại bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý tội phạm. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy việc áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo mức đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo như lời bào chữa cho bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[5] Đối với người thanh niên tên C đưa tiền và điều khiển xe mô tô chở bị cáo T đi mua ma túy và người thanh niên tên L đã bán ma túy cho T, không rõ nhân thân, lai lịch nên không làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định 0,37725 gam là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành được nên tịch thu và tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo The bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc vùng kinh tế khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên xét cho bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Danh Sà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo D Sà The 01(Một) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/02/2024. Được đối trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ ngày 19/9/2023 đến ngày 21/9/2023.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong còn nguyên vẹn, trên gói có dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh B và dòng chữ “119/GĐMT-2023” (Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,37725 gam).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Danh Sà T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bản án hình sự sơ thẩm tuyên công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2024)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Chi |
5
Bản án số 38/2024/HSST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
