Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-5-2024

V/v: Ly hôn và tranh chấp

về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Lê.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Văn Tâm;
  2. Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 387/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1987; nơi thường trú: Ấp Ba Đ, xã Trường Long H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; nơi tạm trú: Tổ 2, khu phố 4, phường T, thành phố U, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Văn Ch, sinh năm 1982; nơi thường trú: Ấp Ba Đ, xã Trường Long H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; nơi tạm trú: Tổ 2, khu phố 4, phường T, thành phố U, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 8 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D và ông Phan Văn Ch quen biết nhau một thời gian thì tiến tới hôn nhân; có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trường Long H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số II/2009, ngày 03/9/2009. Thời gian đầu mới kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, cùng nhau lo làm ăn, xây Dng kinh tế gia đình. Khoảng đầu năm 2023 thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng, thương yêu nhau, không tin tưởng nhau, ghen tuông vô cớ, cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt. Không những vậy, ông Ch còn thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu, không tu chí làm ăn và còn đánh đập bà D nhiều lần. Khoảng tháng 8/2023, do không thể tiếp tục cuộc hôn nhân như vậy với ông Ch nên bà D và các con đã đi thuê chỗ trọ khác sinh sống, từ đó vợ chồng ly thân. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông Ch.

+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Thị Hồng Y, sinh ngày 29/4/2008 và Phan Hữu L, sinh ngày 11/4/2016. Hiện tại cháu L đang sống cùng ông Ch. Khi ly hôn, bà D yêu cầu giao cháu Y cho bà nuôi dưỡng; và đồng ý giao cháu L cho ông Ch nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 17/4/2024 và tại phiên toà, bị đơn ông Phan Văn Ch trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Ch thống nhất với lời trình bày của bà D về thời gian tìm hiểu, thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống bên vợ tại địa chỉ: ấp Ba Đ, xã Trường Long H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Vợ chồng sống hạnh phúc, tôn trọng lẫn nhau. Đến cuối năm 2017, sau khi sinh người con thứ 2 thì vợ chồng, con cái chuyển lên Bình Dương lập nghiệp và sinh sống cho đến nay. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng cũng có mâu thuẫn này nọ nhưng không trầm trọng. Nguyên nhân là do cả hai phía, ông Ch thừa nhận có nhậu nhẹt, mỗi lần say rượu thì vợ ông Ch dùng những lời lẽ xúc phạm đến ông, do không kìm chế được bản thân nên có đánh vợ vài bạt tai. Khoảng đầu tháng 9/2023, vợ chồng mâu thuẫn do hiểu lầm nhau về tiền bạc nên bà D đã làm đơn yêu cầu ly hôn. Khoảng đầu tháng 10/2023, bà D và các con bỏ ra ngoài thuê phòng trọ chỗ khác sinh sống cho đến nay, từ đó vợ chồng ly thân. Hiện tại ông Ch vẫn còn thương bà D nên không đồng ý ly hôn.

+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Thị Hồng Y, sinh ngày 29/4/2008 và Phan Hữu L, sinh ngày 11/4/2016. Hiện tại, cháu L đang sống cùng ông Ch. Trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L; còn cháu Y giao cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 26/01/2024 của cháu Phan Thị Hồng Y và Phan Hữu L trình bày: Nếu cha mẹ ly hôn, hai cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Phạm Thị D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.

- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Phan Văn Ch; về con chung: tại phiên toà, các đương sự thoả thuận giao con chung tên Phan Thị Hồng Y, sinh ngày 29/4/2008 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung và Phan Hữu L, sinh ngày 11/4/2016 cho ông Ch được trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận; về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không yêu cầu hội đồng xét xử đặt ra xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn Ch và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo lời trình bày của các đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Phan Văn Ch hiện đang cư trú tại phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Phạm Thị D yêu cầu được ly hôn, bị đơn ông Phan Văn Ch không đồng ý ly hôn; Hội đồng xét xử thấy:

[2.1.1] Bà Phạm Thị D và ông Phan Văn Ch chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trường Long H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số II/2009, ngày 03/9/2009. Theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian đầu mới kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, cùng nhau lo làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Tuy nhiên, đến đầu năm 2023, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không tôn trọng, thương yêu nhau và tin tưởng nhau; thậm chí ông Ch còn thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu, không tu chí làm ăn và còn đánh đập bà D nhiều lần. Ông Ch thừa nhận vợ chồng không tin tưởng nhau và ông có đánh đập bà D nhiều lần. Vợ chồng đã ly thân gần 01 năm nay.

[2.1.2] Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2.1.3] Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà D và ông Ch đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Ch không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp hoà giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ hạnh phúc; bà D vẫn một mực yêu cầu được ly hôn với ông Ch. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Phan Thị Hồng Y, sinh ngày 29/4/2008 và Phan Hữu L, sinh ngày 11/4/2016. Hiện tại, cháu L đang sống cùng ông Ch. Tại phiên toà, các đương sự thoả thuận, giao con chung tên Phan Thị Hồng Y, sinh ngày 29/4/2008 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung và Phan Hữu L, sinh ngày 11/4/2016 cho ông Ch được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của các đương sự và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là ý chí tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị D về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Phan Văn Ch như sau:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Phan Văn Ch.

1.2 Về con chung: Giao con chung tên Phan Thị Hồng Y, sinh ngày 29/4/2008 cho bà Phạm Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên Phan Hữu L, sinh ngày 11/4/2016 cho ông Phan Văn Ch được trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Phạm Thị D và ông Phan Văn Ch đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0008226 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Thị Lê

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger