|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 07-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Duyên
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1993 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: số E đường T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); không có chồng, có 02 con; tiền án: Có 03 tiền án chưa được xóa án tích: Án số 176/2017/HSST ngày 08/11/2017, TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; án số 10/2019/HS-ST ngày 21/01/2019, TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp với 09 tháng tù giam của bản án số 176/2017/HSST ngày 08/11/2017 của TAND quận Lê Chân là 24 tháng tù; và án số 56/2019/HS-ST ngày 04/9/2019, TAND quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp với 24 tháng tù của bản án số 10/2019/HS-ST ngày 21/01/2019 của TAND quận Lê Chân là 54 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2023); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024, đến ngày 30/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trương Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt
- Bị hại: Ông Trịnh Quang V; sinh 1958; nơi cư trú: Số D Bùi Thị Từ N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 5 giờ ngày 21/01/2024, Nguyễn Thị H đến nhà ông Phạm Quyết T (sinh 1961; ĐKHKTT: Số B T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng) là chú quen xã hội, mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, BKS 16P7- 0124 để đi về nhà. Đến khoảng 6 giờ 40 phút cùng ngày, H đi xe máy đến khu vực đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến nhà ông Trịnh Quang V, sinh 1958; trú tại: Số D đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì phát hiện nhà không khóa cửa nên H đi vào phòng ngủ tầng một và lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10s màu đen để trên kệ tivi. Sau đó H tiếp tục đi sang khu vực phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, khi đi đến phòng trọ số G, tổ A, cụm C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng của chị Trần Thị N1, sinh 1993; ĐKHKTT: Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng thì H thấy cửa không khóa nên lẻn vào với ý định trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được gì thì bị chị N1 phát hiện và trình báo lên Công an phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Ngày 21/01/2024, ông Trịnh Quang V đến Cơ quan Công an trình báo về việc ông bị kẻ gian lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động.
Bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H kết luận giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng, kiểu loại Galaxy A10s, màu đen trị giá là 825.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10s màu đen, Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp của chiếc điện thoại là ông Trịnh Quang V.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, BKS 16P7- 0124, ông T không biết việc H mượn để đi trộm cắp. Ông T mua xe của ông Hoàng Văn H3, sinh 1959, ĐKHKTT: Cụm C, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng từ năm 2020 với giá 8.000.000 đồng. Ông Hoàng Văn H3 khai ông mua chiếc xe Yamaha Sirius màu đen bạc, BKS 16P7- 0124 vào năm 2009 và đã bán cho ông T năm 2020. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Phạm Quyết T.
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 16 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Thị H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H, bà Trương Thị H2 phát biểu: Nhất trí với quan điểm về tội danh mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố đối với bị cáo H. Tuy nhiên Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H là thành khẩn khai báo, tự thú quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa đầy đủ. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đó là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác bị cáo H có hoàn cảnh gia đình éo le, không có chồng, có hai con nhỏ và hiện đang ở với bị cáo. Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo H mức hình phạt thấp hơn mức của Kiểm sát viên đề nghị để bị cáo sớm được trở về nuôi con. Gia đình bị cáo là hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Trong vụ án này, bị cáo H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp dưới 2 triệu đồng, 03 án tích về tội Trộm cắp tài sản trước đó của bị cáo được áp dụng làm căn cứ cấu thành cơ bản tội danh quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Tuy nhiên, phải thấy rằng 03 tiền án của bị cáo H đều về tội Trộm cắp tài sản, được thực hiện liên tiếp nhau về thời gian, khi bị cáo đang được hoãn chấp hành án bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản để nuôi con nhỏ thì bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để chi tiêu mà không biết ăn năn hối cải, tìm việc để kiếm sống. Bị cáo vừa chấp hành xong tổng hình phạt của 03 bản án, ra tù ngày 25/8/2023, chưa được xóa án tích đến ngày 21/01/2024 bị cáo lại trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động của ông Trịnh Quang V và khi đang lén lút tìm tài sản ở phòng trọ số G, tổ A, cụm C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng của chị Trần Thị N1, sinh 1993; ĐKHKTT: Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng để trộm cắp thì bị phát hiện. Như vậy tổng hợp hình phạt của 03 bản án là chưa đủ nghiêm khắc để răn đe, cải tạo, giáo dục H trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội. Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 173 BLHS là tội cấu thành hình thức nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo H. Về án phí: Gia đình bị cáo H là hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
[1] Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[3] Khoảng 6 giờ 40 phút ngày 21/01/2024, tại nhà số D đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, lợi dụng thời điểm sáng sớm, nhà không khoá cửa, Nguyễn Thị H có hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10s màu đen trị giá 825.000 đồng của ông Trịnh Quang V. Sau đó H tiếp tục đi đến phòng trọ số G, tổ A, cụm C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng và lẻn vào với ý định trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được gì thì bị phát hiện. Bị cáo có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục vi phạm.
[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo H có 03 tiền án đều về tội Trộm cắp tài sản, đều chưa được xóa án tích. Bị cáo tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên phải đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém, nên cần áp dụng mức hình phạt khiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo Nguyễn Thị H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo H hai tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, tự thú. Người bào chữa đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo H tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Hội đồng xét xử xét thấy: Vật chứng vụ án là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung trị giá là 825.000 đồng, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện giao nộp và cơ quan công an đã trả lại cho bị hại, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại cho bị cáo H như đề nghị của người bào chữa là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo Nguyễn Thị H được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: Thành khẩn khai báo, tự thú, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, quy định tại điểm r, s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo Nguyễn Thị H không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10s màu đen, cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hải Phòng đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trịnh Quang V, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, BKS 16P7- 0124, cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Quyết T, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[11] Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm r, s, h khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Thị H 12 (mười hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
- Về án phí:Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị H.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H - Trộm cắp tài sản
