Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-5-2024

V/v “Chia tài sản sau ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thượng Quang Minh

2. Ông Trương Đắc Tạo

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 đến 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 90/2023/TLST- DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “chia tài sản chung sau ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ D, ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:

Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tuấn A đã ly hôn theo Quyết định giải quyết số 01/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; khi ly hôn thì giữa bà T và ông Tuấn A có tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung nhưng không lập biên bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau. Nay giữa bà T và ông Tuấn A đã không tự thỏa thuận được nên bà T yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, cụ thể như sau:

Đối với tài sản là thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước có nguồn gốc là của mẹ ông Tuấn A cho bà T và ông Tuấn A để xây nhà ở sau khi bà T và ông Tuấn A đã kết hôn; bà T và ông Tuấn A có đưa cho mẹ ông Tuấn A 01 cây vàng để nhận đất; khi cho thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến khi đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T và ông Tuấn A đều thống nhất là tài sản chung nên Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho bà T và ông Tuấn A. Trên đất hiện có 01 căn nhà cấp 4 và cây trồng trên đất. Đối với tài sản này bà T yêu cầu chia đôi và yêu cầu được nhận giá trị tài sản bằng tiền do hiện nay thửa đất này đang do ông Tuấn A quản lý sử dụng.

- Đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; đây là tài sản riêng của ông Tuấn A đã có trước khi kết hôn với bà T. Sau khi kết hôn bà T và ông Tuấn A đã cùng nhau sử dụng, canh tác trên thửa đất này nên các tài sản là cây trồng trên đất theo như Biên bản định giá ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản là tài sản chung của bà T và ông Tuấn A nên bà T yêu cầu chia đôi đối với các tài sản là cây trồng trên thửa đất này và yêu cầu nhận giá trị tài sản bằng tiền. Đối với đất bà T không yêu cầu chia vì đất là tài sản riêng của ông Tuấn A. Tuy nhiên, thửa đất này bà T cũng có công sức đóng góp tôn tạo, canh tác, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất nên bà T yêu cầu chia công sức đóng góp bằng 21% giá trị đất hiện tại theo biên bản định giá giá ngày 20/7/2023, cụ thể yêu cầu trả công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất với số tiền 280.000.000đ.

- Trong đơn khởi kiện bà T yêu cầu chia 1000kg. Nay bà T không yêu cầu phân chia nữa do hiện nay số tiêu trên đã không còn; bà T rút yêu cầu này.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu HONDA SH Mode, biển kiểm soát 93C1-268.71 bà T yêu cầu chia đôi, bà T yêu cầu được nhận tài sản là hiện vật và trả cho ông Tuấn A một nửa giá trị chiếc xe theo biên bản định giá ngày 20/7/2023.

Các tài sản trên sau khi ly hôn bà T và ông Tuấn A có thỏa thuận để lại cho các con (thỏa thuận miệng) nhưng ông Tuấn A không làm thủ tục cho các con mà chiếm giữ nên không thực hiện được.

Ngoài ra không yêu cầu phân chia gì khác.

Tại phiên Tòa bà T không cung cấp thêm chứng cứ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Tuấn A trình bày:

Năm 2022 khi ly hôn với bà T thì ông Tuấn A và bà T có tự thỏa thuận phân chia tài sản. Khi đó thỏa thuận đối với thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), trên đất có căn nhà để lại cho 02 con khi cả 02 con đủ 18 tuổi với điều kiện các con phải lo làm ăn, lao động thì mới cho. Đến nay thửa đất này chưa có phân chia. Nay bà T yêu cầu chia đối với thửa đất này thì ông Tuấn A không đồng ý, vì khi giải quyết ly hôn ông Tuấn A và bà T có thỏa thuận miệng với nhau là để lại thửa đất này và tài sản trên đất cho các con khi đủ 18 tuổi sẽ chia cho các con và có sự giám sát của cha mẹ.

Đối với thửa đất số 59, diện tích 11.733m², nguồn gốc đất là mẹ ông Tuấn A cho riêng ông Tuấn A; trên đất đã tồn tại các tài sản là cây trồng trên đất, gồm tiêu, điều và cà phê đều đang cho thu hoạch; sau khi cưới bà T, nhờ thu hoạch từ tài sản này mà có tiền nuôi con ăn học và xây dựng căn nhà hiện tại. Sau này cải tạo trồng mới lại là những cây trồng hiện tại trên thửa đất số 59. Bà T yêu cầu giá trị công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất với số tiền 280.000.000₫ (21% giá trị) thì ông Tuấn A không đồng ý.

Đối với các cây trồng trên đất này khi trồng thì vợ chồng bỏ tiền, công để trồng đối với các cây trồng trên đất chủ yếu là ông Tuấn A chăm sóc, bà T có xuống vườn thì cũng khoảng 4h chiều mới xuống, không có chăm sóc. Do vậy, đối với thửa đất số 59 này là tài sản của riêng ông Tuấn A.

Ông Tuấn A không đồng ý yêu cầu chia như bà T vì các bên đã thỏa thuận (miệng) là để lại tài sản cho các con sau này.

Đối với chiếc xe Honda SH MODE biển số 93C1-268.71 đứng tên bà T, hiện tại đang do bà T quản lý sử dụng nên ông Tuấn A đồng ý chia đối với tài sản này, ông Tuấn A đồng ý giao xe cho bà T quản lý, sử dụng và nhận ½ giá trị.

Ngoài ra không có yêu cầu khác.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vụ án quá thời hạn xét xử nên cần xem xét rút kinh nghiệm. Ngoài ra, Viện kiểm sát không có ý kiến gì thêm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu mà Tòa án thu thập được, phần tranh luận của các đương sự tại phiên Tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Đối với thửa đất thứ nhất: Là thửa đất số 68, tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T, huyện H nguồn gốc đất là mẹ ông Tuấn A cho ông Tuấn A và bà T để xây nhà ở sau khi kết hôn, khi cho thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau này đất được cấp giấy chứng nhận quyền sửu dụng đất thì ông Tuấn A và bà T thống nhất là tài sản chung nên cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Tuấn A và bà T nên đây xác định là tài sản chung vợ chồng, toàn bộ diện tích thửa đất và tài sản trên đất có giá trị là: 754.938.540đ. Do vậy căn cứ vào Điều 33, 34, 59, 62 Luật hôn nhân gia đình Kiểm sát viên đề xuất chấp nhận yêu cầu của bà T buộc ông Tuấn A phải trả cho bà T một nửa giá trị tài sản trên với số tiền là 377.469.270 đ. Giao toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất cho ông Tuấn A quản lý sử dụng.

Tài sản thứ 2: Thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04, bà T yêu cầu chia đối với tài sản trên đất, do bà T cho rằng tài sản trên đất là tài sản chung do khi còn là vợ chồng đã tạo lập được nên bà T yêu cầu chia đôi, không yêu cầu chia đất vì đất là tài sản riêng của ông Tuấn A, bà T yêu cầu nhận giá trị tài sản bằng tiền. Đồng thời thửa đất này bà T cho rằng cũng có công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo đất nên bà T yêu cầu chia công sức này bằng 21% giá trị đất hiện tại, theo biên bản định giá tài sản thì trên đất có tồng giá trị tài sản trên đất là 203.771.000đ và đất có giá trị là 1.200.000.000/ha. Do vậy căn cứ các Điều 43, 44 Luật hôn nhân gia đình, kiểm sát viên đề xuất giao toàn bộ diện tích đất 11.733m2 cho ông Tuấn A quản lý sử dụng vì diện tích đất trên khi ông Tuấn A được mẹ cho trong thời kỳ hôn nhân nhưng không nhập làm tài sản chung vợ chồng và thống nhất theo yêu cầu của bà T chia đôi giá trị tài sản trên đất cũng như tính % công sức đóng góp, tôn tạo, cải tạo đất của bà T đối với thửa đất trên trong thời kỳ hôn nhân.

Đối với xe Honda SH MODE biển số 93C1-268.71 ông Tuấn A yêu cầu chia thì bà T cũng đồng ý chia theo định giá chiếc xe trên còn giá trị là 36.000.000đ, Căn cứ Điều 59 Luật HNGĐ kiểm sát viên đề xuất yêu cầu bà T phải trả cho ông Tuấn A một nửa giá trị chiếc xe là 18.000.000đ, tiếp tục giao xe cho bà T sử dụng.

Đối với 1000kg tiêu bà T rút yêu cầu nên đình chỉ.

Án phí và các chi phí tố tụng khác các đương sự phải chịu theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A có nơi cư trú tại xã T, huyện H, nên đây là vụ án chia tài sản chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu chia tài sản chung của bà Phạm Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Đối với yêu cầu phân chia thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước và các tài sản trên đất.

Nguồn gốc thửa đất này do cha mẹ ông Tuấn A cho vợ chồng ông Tuấn A, bà T sau khi đã kết hôn, khi cho thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng đất thì ông Tuấn A và bà T cùng sử dụng, quản lý, xây dựng nhà ở trên đất và chung sống cho đến năm 2022 (khi này bà T và ông Tuấn A ly hôn). Đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Tuấn A và bà T thống nhất cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể hiện ý chí của các bên là đồng ý nhập tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Mặc dù đất có nguồn gốc là mẹ ông Tuấn A cho nhưng từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay không ai có ý kiến hay khiếu nại, thắc mắc gì. Vì vậy, căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì đây là tài sản chung của ông Tuấn A và bà T trong thời kỳ hôn nhân và được chia theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu phân chia tài sản của bà T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Tuy nhiên, về nguồn gốc hình thành của tài sản này do mẹ ông Tuấn A tặng cho mà có, nên căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 để tính đến công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Do đó, xét về công sức đóng góp cho việc hình thành tài sản này thì ông Tuấn A có công sức đóng góp nhiều hơn bà T nên Hội đồng xét xử thống nhất chia cho ông Tuấn A phần giá trị tài sản nhiều hơn bà T là 60%, chia cho bà T phần giá trị tài sản 40% là phù hợp. Vì vậy, yêu cầu của chia đôi tài sản của bà T là có căn cứ một phần nên được chấp nhận một phần.

Giá trị tài sản phân chia cụ thể như sau:

Căn cứ biên bản định giá tài sản ngày 20/7/2023:

Về giá đất là 70.000.000đ/01 mét ngang, phần đất đang tranh chấp có diện tích ngang tiếp giáp mặt đường là 8,46m, thành tiền phần đất tranh chấp: 70.000.000₫ x 8,46 = 592.200.000đ. Tài sản trên đất theo biên bản định giá có giá trị là 128.777.190đ. Tổng giá trị là: 592.200.000đ + 128.777.190₫ = 720.977.190đ. Phân chia cho ông Tuấn A 60% giá trị tài sản với số tiền là 432.586.314₫, phân chia cho bà T 40% giá trị tài sản, tưng ứng với số tiền là 288.390.876₫.

Đối với yêu cầu nhận giá trị tài sản bằng tiền của bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi ông Tuấn A và bà T ly hôn thì thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T, huyện H và các tài sản trên đất do ông Tuấn A là người trực tiếp quản lý sử dụng cho đến nay, tại phiên tòa ông Tuấn A cũng thừa nhận sau khi ly hôn bà T đã bỏ đi và ông Tuấn A không cho bà T về nhà; đất và tài sản trên đất hiện tại đang do ông Tuấn A quản lý sử dụng. Mặt khác, thửa đất tranh chấp của ông, bà không đủ các điều kiện về diện tích để tách thửa theo quy định tại Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 16/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Do đó, giao toàn bộ thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T và các tài sản trên đất cho ông Tuấn A trực tiếp quản lý, sử dụng là phù hợp, ông Nguyễn Tuấn A có nghĩa vụ hoàn trả cho bà T giá trị tài sản bằng tiền là 288.390.876đ theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2] Đối với yêu cầu tính công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 của bà T bằng 21% giá trị đất hiện tại, tứng ứng với số tiền là 280.000.000đ. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thửa đất số 59 có nguồn gốc là mẹ ông Tuấn A cho ông Tuấn A trước khi kết hôn với bà T, theo như ông Tuấn A trình bày thì khi cưới bà T, trên thửa đất này đã có các cây trồng gồm tiêu, điều và cà phê đang cho thu hoạch, sau này trong quá trình sử dụng vợ chồng cải tạo lại và trồng mới các cây trồng như hiện tại, khi trồng thì vợ chồng cùng bỏ tiền, công sức để trồng nhưng sau khi trồng thì chủ yếu là ông Tuấn A chăm sóc, bà T có xuống vườn thì cũng chỉ xuống thăm chứ không trực tiếp chăm sóc nên ông Tuấn A không đồng ý phân chia như yêu cầu của bà T. Tuy nhiên, từ sự trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa cho thấy, trước khi kết hôn với bà T thì thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong quá trình ông Tuấn A và bà T sử dụng thì đất mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích sử dụng và quyền sử dụng đất đã có sự thay đổi, từ đó giá trị quyền sử dụng đất đã có sự tăng lên trong thời kỳ hôn nhân của ông Tuấn A và bà T. Việc tăng lên của giá trị đất tại thời điểm ông Tuấn A kết hôn với bà T như giá trị đất tại thời điểm hiện tại là một phần do công sức quản lý, sử dụng, cải tạo của vợ chồng, trong đó có việc sử dụng tiền chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện nghĩa vụ tài chính trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng tiền chung của vợ chồng trong việc cải tạo, thay đổi cơ cấu cây trồng, chăm sóc cây trồng. Do đó, cần xem xét về công sức đóng góp của bà T trong việc làm tăng giá trị đất. Về mức yêu cầu được chia giá trị 21% của bà T đối với giá trị của thửa đất số 59 cũng là phù hợp so với thời gian bà T và ông Tuấn A kết hôn là 22 năm nên cần chấp nhận.

Giá trị công sức đóng góp bà T được hưởng cụ thể như sau:

Căn cứ biên bản định giá ngày 20/7/2023 thì thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 tại ấp P, xã T có giá trị là 1.407.960.00đ, giá trị đất bà T yêu cầu được hưởng là 21% tưng ứng với số tiền là 295.671.600đ. Quá trình giải quyết cũng như tai phiên tòa bà T yêu cầu nhận giá trị tài sản 21% tương ứng số tiền 280.000.000đ. Buộc ông Nguyễn Tuấn A có nghĩa vụ trả cho bà T số 280.000.000₫ là công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 của bà T.

[2.3]. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông Nguyễn Tuấn A và bà Phạm Thị T đều thừa nhận các tài sản là cây trồng trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 tại ấp P, xã T là tài sản ông Nguyễn Tuấn A và bày T tạo dựng sau khi vợ chồng đã kết hôn, đất thì trước đây là tài sản của mẹ ông Tuấn A và ông Tuấn A cùng sử dụng, sau đó mẹ ông Tuấn A đã tặng cho riêng ông Tuấn A thửa đất này. Bà T cũng biết đó là tài sản riêng của ông Tuấn A nên khi ông Tuấn A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cá nhân ông thì bà T không có ý kiến gì cho thấy bà T đã chấp nhận đây là tài sản riêng của ông Tuấn A. Tuy nhiên, đối với các tài sản là các cây trồng trên đất sau khi kết hôn ông Tuấn A và bà T đã thay đổi lại cơ cấu cây trồng, bỏ cây trồng cũ để trồng mới như hiện tại, chi phí cải tạo do vợ chồng bỏ ra thì xác định đây là tài sản được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, bà T yêu cầu chia đôi đối với tài sản trên thửa đất số 59 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Nguyên tắc phân chia được thực hiện theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình.

Giá trị tài sản được phân chia cụ thể như sau:

Tài sản có yêu cầu phân chia trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 có tổng giá trị (không bao gồm giá trị đất) là 201.786.000đ. Chia cho bà T ½ giá trị tài sản là 100.893.000đ, chia cho ông Nguyễn Tuấn A ½ giá trị tài sản là 100.893.000₫.

Bà T yêu cầu nhận giá trị tài sản bằng tiền là phù hợp. Bởi lẽ, đất thuộc quyền sử dụng riêng của ông Tuấn A, hiện nay các tài sản là cây trồng trên thửa đất này ông Nguyễn Tuấn A đang là người trực tiếp quản lý, khai thác. Đồng thời, việc giao tài sản cho ông Tuấn A tiếp tục quản quản lý, canh tác một mặc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và tạo điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất giao toàn bộ tài sản có yêu cầu phân chia trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 cho ông Nguyễn Tuấn A quản lý, sử dụng, ông Nguyễn Tuấn A có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị T phần giá trị tài sản phân chia, tương ứng với số tiền là 100.893.000đ.

[2.4] Đối với 01 xe máy hiệu HONDA loại SH MODE biển kiểm soát số 93C1-268.71. Căn cứ biên bản định giá ngày 20/7/2023 thì chiếc xe máy có giá trị hiện tại là 36.000.000đ. Bà T xác định đây là tài sản chung của bà T và ông Tuấn A trong thời kỳ hôn nhân nên yêu cầu phân chia, ông Tuấn A đồng ý chia đôi và yêu cầu nhận giá trị tài sản bằng tiền. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà T và ông Tuấn A. Giao cho bà Phạm Thị T quản lý, sử dụng xe máy hiệu HONDA loại SH MODE biển kiểm soát số 93C1-268.71, bà T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Tuấn A ½ giá trị xe máy với số tiền là 18.000.000đ.

[2.5] Đối với yêu cầu phân chia tài sản là 1000kg tiêu, tuy nhiên quá trình giải quyết bà T rút đối với yêu cầu này nên Hội đồng xét xử đình một phần yêu cầu khởi kiện theo quy định.

[3] Về chi phí tố tụng:

Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 19.671.000đ, các đương sự phải chịu phần chi phí tố tụng được tính trên phần giá trị tài sản được phân chia. Tuy nhiên, bà T là người được nhận phần giá trị tài sản ít hơn so với ông Tuấn A nhưng bà T tự nguyện chịu ½ chi phí tố tụng, đây là ý chí tự nguyện của bà T, không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Tuấn A nên phù hợp. Do đó, bà Phạm Thị T phải chịu số tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.835.500đ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng bà T đã nộp. Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu số tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.835.500đ.

[4] Về án phí:

Căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

Tổng giá trị tài sản ông Nguyễn Tuấn A được chia là 551.479.314₫ nên ông Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 26.059.172đ. Tổng giá trị tài sản bà Phạm Thị T được phân chia là 687.283.876đ nên bà T phải chịu án phí với số tiền 31.491.355₫

[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa:

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 157, 165, 217, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 33, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc chia tài sản chung sau ly hôn.

- Giao cho ông Nguyễn Tuấn A toàn quyền quản lý sử dụng đối với thửa đất số thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện B (cũ) nay là huyện H cấp số: AH 608302 ngày 19/12/2008 (Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H-01550) đứng tên hộ ông Nguyễn Tuấn A và bà Phạm Thị T. Trên đất có: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 85m², kết cấu móng xây gạch rằng bê tông cốt thép, tường xây gạch, mái lợp tôn, nền láng gạch men, sơn nước, cửa kính khung sắt; 01 nhà tắm riêng biệt; 01 mái che diện tích 68,25m²; 01 mái che diện tích 30.75m²; 01 sân bê tông diện tích 59.5m²; 01 hàng rào lưới B40 khung sắt diện tích 28,9m²; cửa cổng sắt diện tích 5,8m²; 07 cây dầu có đường kính 40cm; 06 cây điều trồng năm 2005.

Buộc ông Nguyễn Tuấn A phải trả cho bà Phạm Thị T giá trị tài sản tương ứng 40% giá trị đất và ½ giá trị tài sản trên đất với số tiền là 288.390.876 (Hai trăm tám mươi tám triệu ba trăm chín mươi nghìn tám trăm bảy mươi sáu) đồng.

- Giao cho ông Nguyễn Tuấn A toàn quyền quản lý sử dụng các tài sản có yêu cầu phân chia trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện H cấp số: BM 180142 ngày 30/10/2012 đất đứng tên hộ ông Nguyễn Tuấn A. Gồm: 200 cây cà phê 06 năm tuổi; 220 cây cao su trồng năm 2021; 60 cây sầu riêng 03 năm tuổi; 167 nọc tiêu 07 năm tuổi; 21 cây điều trồng năm 2020; 01 cây bơ 05 năm tuổi; 10 cây mít trồng năm 2020; 01 cây chôm chôm trồng năm 2020; 01 cây xoài trồng năm 2020.

Buộc ông Nguyễn Tuấn A phải trả cho bà Phạm Thị T ½ giá trị tài sản trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 tại ấp P, xã T là 100.893.000 (Một trăm triệu tám trăm chín mươi ba nghìn) đồng và giá trị công sức đóng góp làm tăng giá trị đất, tương ứng 21% là 280.000.000 (Hai trăm tám mươi triệu) đồng.

- Ông Nguyễn Tuấn A có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng, sở hữu tài sản được giao theo quy định.

- Giao cho bà Phạm Thị T 01 xe máy hiệu HONDA loại SH MODE biển kiểm soát số 93C1-268.71 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tuấn A số tiền phân chia xe là 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.

2. Đình chỉ yêu cầu phân chia 1000kg tiêu của bà Phạm Thị T.

3. Về chi phí tố tụng:

Bà Phạm Thị T phải chịu 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà T đã nộp.

Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, do bà Phạm Thị T đã đóng tạm ứng chi phí tố tụng nên buộc ông Nguyễn Tuấn A trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng theo quy định.

4. Về án phí:

Bà Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.491.355 (Ba mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng, được khấu trừ số tiền 7.750.000 (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng bà T đã nộp nên bà Phạm Thị T còn phải nộp số tiền án phí sơ thẩm là 23.741.355 (Hai mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng.

Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 26.059.172 (Hai mươi sáu triệu không trăm năm mươi chín nghìn một trăm bảy mươi hai) đồng.

5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền) nếu bên phải thi hành chậm thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản
  • - Các đương sự;
  • - Nơi ĐKKH
  • - CCTHADS huyện Hớn Quản
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: a
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger