Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Đôi

Bà Phan Thị Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lan C, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số nhà A ngõ F, phố T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Thanh T, sinh năm 1987; đăng ký hộ khẩu thường trú: Phố T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H - xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 28 tháng 01 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Lan C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện chung sống với anh Ngô Thanh T từ tháng 10 năm 2008 và đến ngày 25 tháng 02 năm 2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 12). Vợ chồng chung sống đến tháng 6 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do phong cách sống không phù hợp, anh T ham chơi bài bạc, không chung thủy với chị, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả nên chị phải mang con về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 5 năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Ngày 17/5/2024 anh T bị Công an quận L khởi tố về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh T.

Về con chung: Anh chị có 01 con là Ngô Lâm A, sinh ngày 03/8/2009, đang do chị nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Ngô Thanh T vắng mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, từ chối khai báo không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa, chị C giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Lan C, cho chị Nguyễn Lan C được ly hôn anh Ngô Thanh T.

Về con chung: Giao cháu Ngô Lâm A, sinh ngày 03/8/2009 cho chị Nguyễn Lan C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Lan C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị C đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Lan C xin ly hôn anh Ngô Thanh T và yêu cầu giải quyết nuôi con tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Anh T cư trú tại thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

[2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Anh T1 là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Lan C xin ly hôn anh Ngô Thanh T; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền thị trấn N cung cấp thì hôn nhân của chị Nguyễn Lan C và anh Ngô Thanh T là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ giữa năm 2016, do bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau sống không chung thủy, anh T ham chơi bài bạc, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Chị C phải mang con về nhà mẹ đẻ ở từ giữa năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Ngày 17/5/2024, anh T đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận L khởi tố về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của chị C có cơ sở chấp nhận nên xử cho chị C được ly hôn anh T là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là Ngô Lâm A, sinh ngày 03/8/2009, đang do chị chi nuôi dưỡng. Nay chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của đương sự, lời khai của đại diện gia đình đương sự và chính quyền thị trấn N cung cấp thì chị C làm công nhân thu nhập trung bình 8.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định tại nhà bố mẹ đẻ chị C. Bên cạnh đó còn có sự hỗ trợ, giúp đỡ của mẹ đẻ chị C chăm sóc cháu A đảm bảo, đầy đủ cho cháu A có cuộc sống tốt. Mặt khác, cháu A có nguyện vọng được ở với chị C, hơn nữa anh T đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng cháu A nên cần giao cháu A cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T.

[5] Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Lan C không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.

[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Lan C được ly hôn anh Ngô Thanh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Ngô Lâm A, sinh ngày 03/8/2009 cho chị Nguyễn Lan C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Ngô Thanh T.

Sau khi ly hôn, anh Ngô Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Lan C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007857 ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Chị C đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Lan C có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Ngô Thanh T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Núi Đối, huyện Kiến Thụy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Dịu

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger