|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày 04 - 6 - 2024 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Võ Thị Thanh Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa:
-
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Bích C, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ B, ấp H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, (có mặt).
-
- Bị đơn: Ông Lê Quang B, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số B, đường P, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Bích C trình bày:
Bà C và ông B tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 90/2010, cấp ngày 20/7/2020. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và đã không còn sống chung hơn 12 năm nay. Do đó, bà C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Ngọc Thu N, sinh ngày 19/11/2010, hiện đang sống cùng bà C. Bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông B cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông B nhưng ông B không cung cấp lời khai và không đến Tòa án để tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà C vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
- Phát biểu của Kiểm sát viên :
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình và thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà C và ông B phát sinh mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau hơn 10 năm, hiện mỗi người có cuộc sống riêng, không quan tâm lẫn nhau. Do đó, bà C yêu cầu được ly hôn với ông B là có căn cứ. Về con chung: Cháu Thu N hiện đang sống cùng với bà C và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bà C. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống của con chung nên giao con chung (Thu N) cho bà C tiếp tục nuôi dạy là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nguyện vọng con chung; ghi nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Phan Thị Bích C khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Lê Quang B. Bị đơn ông B cư trú thuộc khu vực khóm M, phường V, thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: bà C và ông B kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 90/2010, cấp ngày 20/7/2010 nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo lời khai của bà C, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã và đã không còn sống chung khoảng hơn 12 năm nay.
Theo lời khai của ông Lê Quang M (cha ruột của ông Lê Quang B) cung cấp: ông B đang làm ăn ở Bình Dương nên không thể đến Tòa án, vợ chồng C, B đã không còn sống chung khoảng hơn 10 năm trước.
Xét thấy, giữa bà C, ông B phát sinh mâu thuẫn là có thật, thời gian xa cách đã lâu nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được tình cảm, đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mỗi người điều có cuộc sống riêng. Ông B biết việc bà C khởi kiện ly hôn nhưng không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để hòa giải, cho thấy không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ đó cho thấy hôn nhân giữa bà C, ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc ly hôn với ông B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà C, ông B có 01 con chung tên Lê Ngọc Thu N, sinh ngày 19/11/2010 đang sống cùng bà C. Xét thấy, bà C có yêu cầu được nuôi con và phù hợp với nguyện vọng của cháu N nên để ổn định môi trường sống cũng như sinh hoạt của con chung, Hội đồng xét xử xét quyết định giao con chung cho bà C tiếp tục nuôi dạy cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà C không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà C.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà C khai không có nên không đề cập để xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Nguyên đơn bà C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông B không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bích C;
1. Về hôn nhân: Bà Phan Thị Bích C được ly hôn với ông Lê Quang B.
Giấy chứng nhận kết hôn số 90/2010 của Ủy ban nhân dân Phường V, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang cấp ngày 20/7/2010 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Bà Phan Thị Bích C được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Lê Ngọc Thu N, sinh ngày 19/11/2010 cho đến khi trường thành và có khả năng lao động. Ông Lê Quang B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Phan Thị Bích C cùng các thành viên gia đình (nếu có) phải tạo điều kiện và không ai được cản trở ông Lê Quang B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, hạn chế quyền thăm nom con chung, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị Bích C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0003266 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, bà C đã nộp đủ án phí;
Ông Lê Quang B không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phan Thị Bích C có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lê Quang B là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đại Nam |
Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bích C. Bà Phan Thị Bích C được ly hôn với ông Lê Quang B.
