Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 38/2023/HS-ST

Ngày 03-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Yến

Ông Nguyễn Khắc Quyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ 262 đường Nguyễn Hữu Cầu, tổ dân phố số 9, phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Tại Trại tạm giam - Công an thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 39/2023/TLST-HS ngày 05/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HS ngày 20/10/2023 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN C, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú:

Thôn S, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1974 và bà Lê Thị L, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án số 75/2019/HS-ST ngày 27/8/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” (chưa được xóa án tích); Nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2023 đến ngày 23/6/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đoàn Văn T; vắng mặt, đã triệu tập hợp lệ.

- Người chứng kiến: Ông Đặng Văn Đ; vắng mặt, đã triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện ma tuý (Heroine) từ năm 2020 đến nay. Khoảng 12 giờ ngày 20/6/2023, Trần Văn C đi xe buýt từ Cảng cá N thuộc phường H, quận Đ, Hải Phòng đến khu vực đường tàu thuộc phường V, quận N, thành phố Hải Phòng với mục đích mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Tại đây, C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 04 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa ma túy với giá 800.000 đồng. C cho 04 túi ma tuý vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi xe buýt về quận Đ. Khoảng 15 giờ 45 cùng ngày, khi xe buýt đi đến khu vực trước cửa số nhà 279 đường L thuộc tổ dân phố C, phường N, quận Đ, Hải Phòng, C xuống xe đi bộ thì bị Tổ công tác thuộc Đồn Biên phòng Đồ Sơn thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải C đang mặc 04 túi zíp nilon, màu trắng, viền màu xanh, có kích thước đều nhau 02 cm x 01 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục, nghi là ma tuý. C khai nhận bên trong 04 túi nilon bị thu giữ đều có chứa ma tuý, loại Heroine nên bị tạm giữ cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 04 túi zíp nilon, màu trắng, viền màu xanh, có kích thước đều nhau 02 cm x 01 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục nghi là ma tuý, niêm phong trong 01 (một) phong bì thư dán kín, có chữ ký của C và những người liên quan.

Tại Kết luận giám định số: 545/KL-KTHS(MT) ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: “Chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,10 gam, loại Heroine".

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn C khai nhận như nội dung nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các lời khai người làm chứng, người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: C khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tàu thuộc phường V, quận N, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của C không còn chứng cứ nào khác. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSĐS ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như nội dung vụ án đã nêu và khai: Bị cáo sử dụng ma tuý Heroine từ năm 2020, trước đây bị cáo sử dụng bằng hình thức để trên giấy bạc đốt và hít khói ma túy vào cơ thể, gần đây sử dụng bằng hình thức pha ma túy vào nước, bỏ vào bơm kim tiêm để tiêm chất ma túy vào Ven trên cơ thể. Mỗi ngày bị cáo sử dụng ma túy một lần, khoảng 07 đến 08 ngày C đi mua ma túy về dùng dần, mỗi lần mua ma túy hết khoảng từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Năm 2019, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” (chưa xóa án tích). Bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án như sau:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn C từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 39 (ba mươi chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 75/2019/HS-ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng chuyển thành án tù: Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án từ 60 (sáu mươi) đến 63 (sáu mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2023.
  • - Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng:
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định, dấu niêm phong số 545MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
  • - Về án phí:
  • Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: C khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tàu thuộc phường V, quận N, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của C không còn chứng cứ nào khác. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đồ Sơn, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Đối với anh T - người làm chứng, ông Đ - người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, anh T, ông Đ đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh, điều luật áp dụng:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; vật chứng thu giữ, Kết luận giám định ma tuý, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 20/6/2023, tại khu vực trước số nhà 279 đường L thuộc tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Trần Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 1,10 gam chất ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác thì bị phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo, xác định: Bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép 1,10 gam Heroine” nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “... Heroine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xoá án tích. Nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét nội dung Kiểm sát viên đề xuất về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác cần phải giải quyết trong vụ án đều có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về hình phạt:

[7] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trật tự an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân bị cáo, kinh tế gia đình của bị cáo, còn là nguyên nhân có thể làm phát sinh loại tội phạm khác. Xác định loại hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy, cần bắt bị cáo phải tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, ở nhờ nhà của cha mẹ đẻ. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, không phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong trong 01 (một) phong bì, dấu niêm phong số 545MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng thuộc loại vật Nhà nước cấm tàng trữ.

- Các vấn đề khác:

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[12] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: C khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tàu thuộc phường V, quận N, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của C không còn chứng cứ nào khác. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý. Vì vậy, không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Về hình phạt chính:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 75/2019/HS-ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng chuyển thành án tù: Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/6/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chất ma túy còn lại sau giám định, dấu niêm phong số 545MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Đồ Sơn, TPHP;
  • - Công an quận Đồ Sơn, TPHP + Phòng PV 06 CAHP;
  • - Cơ quan THAHS cấp huyện + Phòng PC 10 CAHP;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn + Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã A, huyện T, TPHP;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Hoàng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 38/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger