TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 38/2023/HS-ST Ngày 03 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử và ông Trịnh Đình Động
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Minh Khôi - Thư ký TAND huyện Ân Thi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hữu - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2023/TLST-HS ngày 02/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tạ Quang N, sinh năm 2004 Giới tính: Nam
Nơi sinh: xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 9/12
Họ tên bố: Tạ Quang V, sinh năm 1972 Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ tên mẹ: Tống Thị H, sinh năm 1985 Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình
Vợ, con: Chưa có
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 10/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng (thực hiện hành vi phạm tội ngày 12/6/2022).
Bị cáo Tạ Quang N bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Â, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 2003 Giới tính: Nam
Nơi sinh, nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 6/12
Họ tên bố: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978 Nghề nghiệp: Trồng trọt
Họ tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1983 Nghề nghiệp: Trồng trọt
Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Vợ, con: Chưa có
Bị cáo Nguyễn Văn H1 bị tạm giữ từ ngày 07/6/2023, chuyển tạm giam từ ngày 16/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên toà.
Tiền án, tiền sự: Không
- Bị hại: Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Nguyễn Đình Duy A, sinh ngày 26/10/2008 (có mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1981 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn L, xã Hồ, huyện Ân, tỉnh Hưng Yên
2. Chị Phạm Trà M, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
2. Chị Ngô Thị Diệu H4, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: số nhà B, tổ H, cụm B, phường P, quận B, thành phố Hà Nội.
3. Ông Tống Văn H5, sinh năm 1960 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn M, xã Hồ, huyện Ân, tỉnh Hưng Yên
4. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 23/5/2023, Tạ Quang N rủ Nguyễn Đình Duy A và Nguyễn Văn H1 đi trộm cắp tài sản và hẹn đến 00 giờ ngày 24/5/2023 gặp nhau tại khu vực gần cây xăng T3 thuộc địa phận thôn G, xã H, huyện Â. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/5/2023, theo như đã hẹn, N, H1 và Duy A gặp nhau tại ngã ba giao nhau giữa đường bê tông với đường C. N bảo Duy A vào nhà ông Phạm Văn H3 trộm cắp tài sản còn N và H3 đứng bên ngoài cảnh giới. Sau đó, cả ba đi bộ vào khu vực nhà ông Phạm Văn H3. Khi đi đến ngã tư đường trong thôn, cách nhà ông Phạm Văn H3 100m thì H3 đứng cảnh giới tại đây, Nam đến đứng cảnh giới ở đầu đường bê tông phía đối diện qua cổng nhà ông Phạm Văn H3 với vị trí H3 đứng và cách nhà ông Phạm Văn H3 khoảng 25m. Lúc này, Duy A thấy cửa cổng nhà ông Phạm Văn H3 khóa nên Duy A trèo qua tường rào vào trong sân nhà ông Phạm Văn H3 thấy sân có thắp điện chiếu sáng, trong lán để xe bên tay phải theo hướng từ ngoài cổng đi vào có dựng 01 chiếc xe gắn máy, sơn màu trắng, nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe WAVEX, biển số 89AC-005.29. Duy A thấy cửa nhà ông H3 chỉ khép, không khoá nên đã mở cửa nhà lẻn vào trong phòng khách thấy trên mặt bàn uống nước có 02 chùm chìa khoá nên cầm ra mở được khóa cổng, rồi để ổ khóa và chìa khoá dưới đất cạnh trụ cổng. Sau đó, Duy A đi vào lán dắt chiếc xe gắn máy biển số 89AC-005.29 ra ngoài đường. Thấy Duy A dắt xe ra, N đi tới cùng dong chiếc xe trộm cắp được đi đến vị trí H3 đang đứng. Cả ba dắt xe đi hết khu vực khu dân cư thì Duy A lấy chìa khóa còn lại lúc trước lấy ở bàn uống nước nhà ông H3 mở được khóa điện xe và nổ máy xe chở N, H3 đi ra khu vực đường C gần cây xăng T. N nói với Duy A “cứ đi xe về nhà đi”, nên Duy A đi chiếc xe vừa trộm cắp được về nhà mình. N nói với H3 “xe vừa trộm cắp được thì cho Duy A, không phải chia nhau nữa”, H3 đồng ý, rồi cả hai cũng đi về nhà mình. Đến trưa cùng ngày, Duy A đã bóc tem nhãn mác hai bên thân xe và dùng tô vít tháo 02 cánh yếm và biển số của chiếc xe gắn máy đã trộm cắp được để sử dụng xe đi lại, tránh bị phát hiện.
Ngày 05/6/2023, ông Phạm Văn H3 đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã H, huyện  và giao nộp cho Công an xã H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 89001642, mang tên Phạm Trà M.
Ngày 07/6/2023, H3 và Duy A đã tự nguyện đến Công an xã H đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp chiếc xe gắn máy, sơn màu trắng, nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe WAVEX, biển số 89AC-005.29 cho Công an xã H.
Kết luận định giá tài sản số 07 ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá huyện Â, kết luận: 01 xe gắn máy, nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe WAVEX, màu sơn trắng, biển số 89AC-005.29, số máy VHL139FMBVE501667, số khung RMN1CBDN4NH001667, đã qua sử dụng từ tháng 9 năm 2022 đến nay có giá là 10.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Đình Duy A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận của bị cáo H1 và Nguyễn Đình Duy A phù hợp khách quan với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Còn bị cáo Tạ Quang N chưa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Do khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Đình Duy A mới 14 tuổi 6 tháng 28 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện nên Công an huyện  đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình Duy A về hành vi trộm cắp tài sản.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định chiếc xe gắn máy, nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe WAVEX, màu sơn trắng, biển số 89AC-005.29 là của ông Phạm Văn H3 mua để con gái ông Phạm Văn H3 là Phạm Trà M sử dụng đi học nên chiếc xe được đăng ký mang tên Phạm Trà M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  đã tiến hành truy tìm tem nhãn mác của chiếc xe biển số 89AC-005.29 mà Duy A đã bóc ra và chiếc tô vít Duy A dùng để tháo biển số xe 89AC-005.29 mà Duy A trình bày đã vứt ở thùng rác trước cổng nhà Duy A nhưng không thấy nên không quản lý thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn H3 không có yêu cầu gì đối với bị cáo Tạ Quang N, bị cáo Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Đình Duy A về việc bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSAT ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Tạ Quang N và bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Văn H1, Tạ Quang N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 34/CT-VKSAT ngày 02/10/2023. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo Tạ Quang N và Nguyễn Văn H1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Tạ Quang N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời gian tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/9/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS. Điều 328 BLTTHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và trả tự do cho bị cáo H1 ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Giao bị cáo H1 cho UBND xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Không.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo phải chịu tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Â; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo H1, N đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú (BL từ 173-176), lời khai của bị cáo H1 (BL từ 187-210), lời khai của Nguyễn Đình Duy A (BL từ 211- 222), lời khai của bị hại, sơ đồ hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 24/5/2023, tại nhà của ông Phạm Văn H3 ở thôn G, xã H, huyện Â, Tạ Quang N, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Đình Duy A đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc bảo vệ tài sản, có hành vi lén lút trộm cắp của ông Phạm Văn H3 01 chiếc xe gắn máy, nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe WAVEX, màu sơn trắng, biển số 89AC-005.29, theo kết luận định giá thì tài sản các bị cáo chiếm đoạt có trị giá 10.500.000 đồng.
Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo N, bị cáo H3 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên có đủ nhận thức để biết rằng hành vi của mình là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có sức khỏe, đang độ tuổi lao động, lẽ ra các bị cáo phải kiếm tiền bằng lao động chân chính, nhưng do lười lao động lại muốn kiếm tiền một cách dễ dàng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do vậy, hành vi của các bị cáo Tạ Quang N, Nguyễn Văn H1 đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Đình Duy A, khi thực hiện hành vi phạm tội, Duy A mới 14 tuổi 6 tháng, theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Bộ luật hình sự, Duy A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện  đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình Duy A về hành vi trộm cắp tài sản là đúng pháp luật.
Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi truy tố bị cáo N, bị cáo H1 về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử còn cân nhắc, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của các bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo N và bị cáo H1 là đồng phạm, các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, có việc bàn bạc phân công nhiệm vụ cho từng người, Nam giữ vai trò là người chủ mưu, đề xướng nên chịu mức hình phạt nặng hơn. Bị cáo H1 là đồng phạm giữ vai trò giúp sức nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N có hành vi rủ rê, lôi kéo Duy A phạm tội khi Duy A mới 14 tuổi 06 tháng nên N phải chịu 01 tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo H1, N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và có thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo được bị hại là ông Phạm Văn H3 xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo H3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo H3 đã ra đã đầu thú, nên bị cáo H3 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo N có nhân thân xấu, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Quá trình điều tra bị cáo quanh co chối tội, không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa bị cáo mới thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên xét thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo H3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội nữa, chỉ cần cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Ông Phạm Văn H3 không yêu cầu bị cáo Tạ Quang N, bị cáo Nguyễn Văn H1 phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe gắn máy, nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe WAVEX, màu sơn trắng, biển số 89AC-005.29 là của ông Phạm Văn H3 mua để con gái ông Phạm Văn H3 là Phạm Trà M sử dụng đi học. Ngày 19/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  đã trao trả cho ông Phạm Văn H3 và ông H3 đã nhận lại chiếc xe mô tô cùng giấy đăng ký của xe là đúng pháp luật.
Đối với tem nhãn mác của chiếc xe biển số 89AC-005.29 mà Duy A đã bóc ra và chiếc tô vít Duy A dùng để tháo biển số xe 89AC-005.29. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên không quản lý thu giữ được. Do đó, không có căn cứ xử lý.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo N;
- Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo H3;
- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo N và bị cáo H3.
Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Tạ Quang N và bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Xử phạt Bị cáo Tạ Quang N 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2023.
Bị cáo Nguyễn Văn H1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do ngay cho bị cáo H1 tại phiên tòa.
Giao bị cáo H1 cho UBND xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thựchiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về án phí: Bị cáo Tạ Quang N và bị cáo Nguyễn Văn H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Thuỷ |
Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 38/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trôm cắp tài sản
