|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 03-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Bình,
Ông Hoàng Văn Đoan.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử thuộc Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 03/01/2003 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Khu D, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Ông Vũ Cao C, sinh năm 1954; chết ngày 03/11/2023.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu G, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (là con của bị hại); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 03/11/2023, Nguyễn Ngọc N không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 97cm³, biển kiểm soát (BKS) 16M3-3976 tham gia giao thông trên đường N theo hướng từ vòng xuyến ngã ba huyện T đi cầu C, xã Q, huyện T với tốc độ khoảng 50km/h (theo lời khai của N). Khi đi đến khu vực bến xe huyện T thuộc địa phận khu G thị trấn T, huyện T, phía trước bên phải có biển chỉ dẫn khu vực bến xe và vị trí người đi bộ sang ngang, N phát hiện ở phía trước cách khoảng 05m về phía bên phải đường theo hướng đi của N có ông Vũ Cao C, sinh năm 1954 ở khu G, thị trấn T, huyện T đang đi bộ sang đường nhưng đi không đúng vị trí dành cho người đi bộ sang đường. Do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần đầu xe mô tô do N điều khiển đã đâm va vào thân người bên trái ông C làm ông C ngã, đầu đập xuống đường; hậu quả ông Vũ Cao Chí tử v tại hiện trường.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Ngọc N ngày 03/11/2023 thể hiện, hơi thở không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 346/KL-KTHS ngày 12/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Vùng đỉnh chẩm sưng nề, xây xước, dập rách da, kích thước 18 x 15cm, vỡ biến dạng xương hộp sọ. Vùng trán, quanh mắt, gò má trái sưng nề, bầm tím, xây xước da, kích thước 11 x 8cm. Nạn nhân chết do sốc chấn thương sọ não”.
Biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường xác định, đoạn đường xảy ra tai nạn là đường N đoạn trước cổng bến xe thuộc khu G, thị trấn T, huyện T. Lề đường bên phải theo chiều đi của xe mô tô BKS 16M3-3976 có biển báo bến xe và biển báo hiệu vị trí người đi bộ sang ngang. Đường rộng 11,15m, trải nhựa asphall, chia thành thành 02 chiều đường xe chạy, có vạch kẻ sơn trắng đứt đoạn. Lấy mép đường bên phải, hướng vòng xuyến đi cầu Cá làm chuẩn. Xe mô tô BKS 16M3-3976 nằm nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng đi cầu Cá, đuôi xe quay hướng vòng xuyến. T2 trục bánh trước, bánh sau cách mép đường chuẩn 0,3m và cách biển báo người đi bộ sang ngang (423b) là 16,2m. Hiện trường để lại vết cày đứt đoạn dài 22m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 3,6m, cách biển báo bến xe khách và biển báo người đi bộ sang ngang lần lượt là 13,4m và 7,2m, điểm cuối vết cày trùng với trục bánh sau xe mô tô.
Biên bản khám xe mô tô BKS 16M3-3976 thể hiện: Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị lực tác động làm bung bật khớp nối, rời khỏi vị trí lắp ráp ban đầu. Mặt ngoài phía trước chân phanh bị lực tác động xuất hiện vết mài sáng kim loại có kích thước trong diện 3 x 0,5cm, tâm vết này cách đất 30,5cm.
Kết luận giám định số 252/KL-KTHS ngày 8/12/2023 của Phòng K, kết luận: “Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô mang biển kiểm soát 16M3-3976 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông”.
Kết luận giám định số 1260/KL-KTHS ngày 29/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H và phiếu trả lời xác minh phương tiện của Công an huyện T, kết luận: “Xe mô tô, biển kiểm soát 16M3-3976 có dung tích xi lanh 97cm³, chủ xe là anh Nguyễn Văn H ở khu D thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hay sửa chữa các ký tự”.
Công văn số 5442/SGTVT-QLPTNL ngày 12/12/2023 của Sở giao thông vận tải thành phố H thể hiện: Sở giao thông vận tải thành phố H chưa cấp giấy phép lái xe đối với Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 03/01/2003 nơi thường trú khu D, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Quá trình điều tra, N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận, N chưa được đào tạo và cấp giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe mô tô BKS 16M3-3976 tham gia giao thông. Do đường vắng nên N điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 50km/giờ và đi ở giữa đường. Khi phát hiện ông Vũ Cao C đang đi bộ sang đường ở phía trước nhưng do khoảng cách gần (khoảng 05m), N không giảm tốc độ dẫn đến phần cụm đèn chiếu sáng phía trước của xe mô tô đâm va vào thân người bên trái ông C, làm ông C ngã xuống đường và tử vong. Xe mô tô BKS 16M3-3976 là tài sản hợp pháp của N, do N mua của anh Nguyễn Văn H sinh năm 1988 ở khu D thị trấn T, huyện T từ tháng 01 năm 2023 với giá 3.000.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại (chị Vũ Thị T1) xác nhận đã nhận đủ số tiền 150.000.000 đồng do Nguyễn Ngọc N bồi thường; không yêu cầu bồi thường thêm, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho N.
Anh Hoàng Hồng S1, sinh năm 1999 ở thôn B, xã T, huyện T khai: Khoảng gần 19 giờ ngày 03/11/2023, khi anh đang bán vịt quay tại vỉa hè Nhà văn hóa khu G, thị trấn T, huyện T thì chứng kiến việc Nguyễn Ngọc N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16M3-3976 đi từ vòng xuyến ngã ba huyện về Cầu C, xã Q, huyện T đâm va vào ông Vũ Cao C đang đi bộ sang đường làm ông C ngã ra đường, đầu chảy máu, tử vong tại chỗ.
Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988 ở khu D thị trấn T, huyện T khai: Xe mô tô BKS 16M3-3976 là tài sản hợp pháp của anh, khoảng tháng 01 năm 2023 anh bán lại cho N với giá 3.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ mua bán.
Cáo trạng số 41/CT-VKS-TL ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Ngọc N về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Anh Hoàng Hồng S1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có văn bản thay đổi lời khai. Người đại diện hợp pháp của bị hại (chị T1) không thay đổi ý kiến.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, lập luận, giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt N 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về bồi thường dân sự: Do bị cáo và gia đình bị hại đã giải quyết xong; tại phiên tòa, người đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không phải giải quyết. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 xe mô tô BKS 16M3-3976. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Chứng cứ, tài liệu do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện; phù hợp với các kết luận giám định pháp y, giám định kỹ thuật hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sự phù hợp đó chứng minh sự thật khách quan xảy ra ngày 03/11/2023, Nguyễn Ngọc N không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô BKS 16M3-3976 dung tích xi lanh 97cm³ tham gia giao thông trên đường N, thị trấn T, huyện T, theo hướng đi của N có biển chỉ dẫn phía trước có bến xe và biển báo hiệu vị trí người đi bộ sang ngang, nhưng N đã không tuân thủ biển báo hiệu đường bộ, vi phạm các khoản 1, 4 Điều 11 và Điều 12 Luật Giao thông đường bộ được cụ thể hóa tại khoản 5, 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, đâm va vào ông Vũ Cao C đang đi bộ sang đường gây hậu quả làm ông Vũ Cao Chí tử v.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, hậu quả làm chết người nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp không có giấy phép lái xe theo quy định nên tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến an toàn công cộng, trật tự công cộng; xâm hại đến tính mạng của người khác.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có một thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị hại có một phần lỗi (đi bộ sang đường không đúng vị trí vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, là vi phạm khoản 2 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ), người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng; bị hại có một phần lỗi. Bị cáo có khả năng tự cải tạo; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo bằng mức thấp nhất quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và không cần bắt cách ly xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo; giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục; buộc bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng bảo đảm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo. Do bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về bồi thường dân sự: Xét thấy trong giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong vấn đề bồi thường dân sự (bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 150.000.000 đồng); tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không phải giải quyết.
[8] Về vật chứng: Xét thấy xe mô tô BKS 16M3-3976 là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được trả lại nên cần trả lại bị cáo 01 xe mô tô mang BKS 16M3-3976.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
1. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Ngọc N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Nguyễn Ngọc N cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Ngọc N.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Nguyễn Ngọc N.
2. Về bồi thường dân sự: Không giải quyết do các đương sự đã thỏa thuận, giải quyết xong.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Nguyễn Ngọc N 01 (Một) xe mô tô mang BKS 16M3-3976 có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Ngọc N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Ngoc N vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
