|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 02/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Văn Diễn;
- 2. Bà Phạm Thị Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Đình Đ, sinh ngày 13/9/1991 tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Đình Đ (đã chết) và bà: Đỗ Thị N, sinh năm 1954; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 35/2016/HSST ngày 28/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 27/4/2018 chấp hành xong án phạt tù, Bản án số 22/2020/HSST ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 18/12/2020 chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/01/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).
Người chứng kiến:
- - Anh Ngô Việt H, sinh năm 1985
- Nơi cư trú: thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- - Anh Đỗ Văn M, sinh năm 1984
- Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
( Anh H, anh M đều vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ
2
án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 30/12/2023, tại khu vực thôn L, xã A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện Ngô Đình Đ đang đi bộ một mình, có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu Đ về trụ sở Ủy ban nhân dân xã A để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và anh Ngô Viết H, sinh năm 1985, trú tại thôn Lộng Khê 2 cùng anh Đỗ Văn M, sinh năm 1984, trú tại thôn A, đều xã A, huyện Quỳnh Phụ, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Đ đang mặc 01 gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng dạng cục. Đ khai nhận đó là gói Heroine của Đ vừa mua để sử dụng cho bản thân (qua giám định là Heroine có khối lượng là 0,1256 gam). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Đình Đ tại thôn A, xã A, huyện Q, không phát hiện, thu giữ gì.
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Ngô Đình Đ khai nhận: Đ nghiện Heroine từ năm 2016. Khoảng 09 giờ ngày 30/12/2023, Đ đi bộ từ nhà ra đường liên thôn, đi nhờ xe của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ đến khu vực tổ 13 thị trấn A thì xuống xe, đi bộ thì gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không quen biết, 01 gói Heroin với giá 200.000 đồng rồi giấu vào túi quân bên trái phía trước đang mặc và đi nhờ xe của một nam thanh niên khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ để về nhà. Khi đi đến thôn L, xã A, Đ xuống xe đi bộ, dang tìm chỗ vắng để sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang.
Cáo trạng số 37/CT-VKSQP ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Ngô Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Ngô Đình Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Đình Đ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh phụ, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên,
3
Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Đình Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lục số 80 - 87, 89 - 91); phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; các biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; các biên bản niêm phong vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 11 giờ 15 phút, 12 giờ 20 phút, 12 giờ 35 phút ngày 30/12/2023 tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01 - 02; 04 - 05); Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 30/12/2023 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Phiếu xét nghiệm test nhanh chất gây nghiện của Trung tâm y tế huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 02/01/2024 (bút lục số 07; 69); Bản kết luận giám định số 1922/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu vật giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng là 0,1256 gam (không phẩy một nghìn hai trăm năm mươi sáu gam). Heroine STT: 9, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ” (bút lục số 09); Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến: anh Ngô Viết H và anh Đỗ Văn M (bút lục số 70 - 79); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 11 giờ ngày 30/12/2023, tại khu vực thôn L, xã A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, bị cáo Ngô Đình Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói Heroine có khối lượng là 0,1256 gam (không phẩy một nghìn hai trăm năm mươi sáu gam) với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248,250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
4
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị xử phạt tù về các tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội “trộm cắp tài sản”, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu năm 2016 đã bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, năm 2020 đã bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Ngô Đình Đ hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số Heroin, bị cáo khai mua của người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, tại khu vực tổ 13, thị trấn A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Đình Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Ngô Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Đình Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,1038 gam (Không phẩy một nghìn không trăm ba mươi tám gam) Hêrôin hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì niêm phong số 1922/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 49 ngày 27/3/2024 giữa Công an huyện Quỳnh Phụ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Ngô Đình Đ phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Đình Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/5/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Đinh Đ phạm tội TTTPCMT
