Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/DS-ST

Ngày: 21 - 8 - 2023.

Về việc tranh chấp đòi lại

tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Đê.

Bà Lê Thị Quỳnh Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Lan C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số A đường B, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Lan C trình bày:

    Năm 2022 bà Nguyễn Thị H và bà Lê Thị Lan C có ký 06 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất, cụ thể:

    1- Hợp đồng ngày 10/01/2022 (Hợp đồng ghi ngày 04/6/2022) diện tích đất chuyển nhượng 1.320m² (gồm 8 lô, mỗi lô có 80m² đất thổ cư) thuộc thửa đất số 115 tờ bản đồ 7 xã L, huyện Đ. Giá chuyển nhượng là 6.900.000.000đ, bà C đã đặt cọc 800.000.000đ. Bà H cam kết ngày 30/8/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.

    2- Hợp đồng ngày 22/01/2022 diện tích đất chuyển nhượng 484m² thuộc thửa đất số 115 tờ bản đồ 7 xã L, huyện Đ. Giá chuyển nhượng là 2.400.000.000đ, bà C đã đặt cọc 300.000.000đ. Bà H cam kết ngày 10/5/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.

    3- Hợp đồng ngày 24/3/2022 diện tích đất chuyển nhượng 394m² thuộc thửa đất số 115 tờ bản đồ 7 xã L, huyện Đ. Giá chuyển nhượng là 1.700.000.000đ, bà C đã đặt cọc 200.000.000đ. Bà H cam kết tách thửa đất đến ngày 24/9/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.

    4- Hợp đồng ngày 29/3/2022 diện tích đất chuyển nhượng 386m² thuộc thửa đất số 115 tờ bản đồ 7 xã L, huyện Đ. Giá chuyển nhượng là 1.700.000.000đ, bà C đã đặt cọc 200.000.000đ. Bà H cam kết ngày 29/9/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.

    5- Hợp đồng ngày 27/01/2022 diện tích đất chuyển nhượng 1.001,2m² thuộc thửa đất số 65 tờ bản đồ 37 xã H, huyện X. Giá chuyển nhượng là 900.00.000đ, bà C đã đặt cọc 100.000.000đ. Bà H cam kết tách thửa đất đến ngày 27/4/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.

    6- Hợp đồng ngày 09/4/2022 diện tích đất chuyển nhượng 3.800m² thuộc thửa đất số 35 tờ bản đồ 65 xã E-K, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Giá chuyển nhượng là 380.00.000đ, bà C đã đặt cọc 280.000.000đ. Bà H cam kết tách thửa đất đến ngày 10/5/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.

    Tổng số tiền bà C đã đặt cọc là 1.880.000.000đ. Do bà H đã vi phạm cam kết thời gian thực hiện công chứng chuyển nhượng đất nên ngày 12/10/2022 hai bên thỏa thuận thanh lý 06 hợp đồng đặt cọc nói trên. Nội dung bà H cam kết đến ngày 20/12/2022 sẽ trả cho bà C tổng cộng 2.640.000.000đ, bao gồm tiền cọc, hỗ trợ 50 % tiền cọc, các khoản bà C đã trả khách hàng thay cho bà H (bà H nhờ trả dùm); bà H đã trả 200.000.000đ; còn lại 2.440.000.000đ, mặc dù đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà H không thực hiện cam kết ngày 12/10/2022.

    Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà C yêu cầu bà H phải trả tiền theo cam kết tại “Biên bản làm việc” ngày 12/10/2022 là 2.440.000.000₫ (Hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu đồng).

  2. Lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

    Bà H thống nhất như trình bày của bà C về nội dung 06 hợp đồng đặt cọc các ngày 10/01/2022 (06/4/2022), ngày 22/01/2022, ngày 27/01/2022, ngày 24/3/2022, ngày 29/3/2022 và ngày 09/4/2022. Do nhà nước thay đổi chính sách không cho tách thửa để chuyển nhượng đất theo cam kết của 06 hợp đồng nêu trên nên hai bên thống nhất thanh lý các hợp đồng đặt cọc bằng “Biên bản làm việc” ngày 12/10/2022 về việc thỏa thuận thời gian hoàn cọc và hỗ trợ % tiền cọc. Theo đó, bà H có nghĩa vụ trả cho bà C 2.640.000.000đ, bà H đã trả được 200.000.000₫.

    Việc không tách thửa chuyển nhượng đất không phải do lỗi của bà H và hiện bà đã tách được một số thửa đất nên đề nghị bà C tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng đất hoặc bà H đồng ý trả cọc và lãi theo mức lãi suất 1,15%/tháng tính từ tháng 6/2022 đến khi trả hết cọc.

  3. Người làm chứng bà Dương Thị H1 trình bày: Bà là người giới thiệu bà C mua đất của bà H, việc các bên có ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất bà đều chứng kiến và nội dung như bà C trình bày là đúng sự thật.
  4. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình tố tụng vụ án, Thẩm phán, thư ký và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng đặt cọc là chưa chính xác, vì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền theo “Biên bản làm việc” ngày 12/10/2022 về việc thanh lý 06 hợp đồng đặt cọc. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “đòi lại tài sản”; về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 2.440.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết 06 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất, do bị đơn không thực hiện tách thửa để chuyển nhượng đất nên hai bên đã thống nhất thanh lý hợp đồng bằng “Biên bản làm việc” ngày 12/10/2022 về việc thỏa thuận thời gian hoàn trả cọc và hỗ trợ % trên số tiền đã cọc. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định, từ ngày 10/01/2022 đến ngày 09/4/2022 giữa bà Nguyễn Thị H và bà Lê Thị Lan C ký 06 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất ở các huyện Đ, huyện X thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nội dung các hợp đồng bà H đều cam kết thời hạn hai bên ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất và nếu nguyên đơn không mua đất sẽ mất cọc, còn bị đơn không bán hoặc không bảo đảm việc tách thửa và thời gian chuyển nhượng đất sẽ bị phạt 02 lần tiền cọc. Đến thời hạn ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất thì bà H không thực hiện được việc tách thửa để chuyển nhượng đất nên hai bên thỏa thuận thanh lý 06 hợp đồng đặt cọc bằng “Biên bản làm việc” ngày 12/10/2022. Theo đó bà H cam kết đến ngày 20/12/2022 sẽ trả cọc, hỗ trợ 50% tiền cọc và các khoản khác, tổng cộng 2.640.000.000đ, bà H đã trả trước 200.000.000đ còn 2.440.000.000đ. Cho rằng, bị đơn không thực hiện thỏa thuận ngày 12/10/2022 nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả 2.440.000.000₫.

Bị đơn cho rằng không thực hiện được cam kết trong 06 hợp đồng đặt cọc là do nhà nước không cho tách thửa nên chỉ đồng ý trả cọc và tiền lãi trên số tiền cọc của 06 hợp đồng, theo mức lãi suất 1,15%/tháng tính từ tháng 6/2022 đến khi trả xong cọc.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà H thừa nhận không thực hiện được việc tách thửa chuyển nhượng đất như đã cam kết trong 06 hợp đồng đặt cọc nên hai bên cùng thỏa thuận thanh lý các hợp đồng đặt cọc bằng “Biên bản làm việc” ngày 12/10/2022. Như vậy, có căn cứ xác định hai bên đã thống nhất thỏa thuận chấm dứt thực hiện 06 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất từ ngày 12/10/2022, phù hợp quy định tại Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015. Xét thấy, thỏa thuận ngày 12/10/2022 không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật và các bên có nghĩa vụ thực hiện các cam kết đã thỏa thuận. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Lê Thị Lan C số tiền 2.440.000.000₫ (Hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu đồng).

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả là 2.440.000.000₫ là 80.800.000đ (Tám mươi triệu tám trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 36, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 422, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Lan C đối với bà Nguyễn Thị H về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

    Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Lê Thị Lan C số tiền 2.440.000.000₫ (Hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Án phí:
    • + Bà Nguyễn Thị H phải nộp 80.800.000đ (Tám mươi triệu tám trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • + Bà Lê Thị Lan C không phải nộp án phí, hoàn trả cho bà C tiền tạm ứng án phí đã nộp 34.500.000đ (Ba mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005464 ngày 05/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

    Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2023) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh BRVT;
  • - VKSND TP Bà Rịa;
  • - Chi cục THA TP Bà Rịa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Trí Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 38/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Hằng phải trả tiền cọc chuyển nhượng đất cho bà Lê Thị Lan Chi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger