Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HSST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Lê Thị Thu Yến

Bà Nguyễn Thị Nhung

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Minh Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hồng N, sinh ngày 01/10/1982 tại tỉnh Tiền Giang; tên gọi khác: Không có. Số CCCD: [...]. Nơi đăng ký thường trú: số 513 ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn B (1956); Mẹ: Trần Thị H (1959); Có chồng (đã ly hôn năm 2016) và có 01 người con (sinh năm 2005). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/11/2024, tạm giam ngày 08/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Lê Văn T, sinh năm: 1969. Vắng mặt

Địa chỉ: số H ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Lê Thị K, sinh năm 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: số D L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

2/ Trần Thị Trúc L, sinh năm 1984. Có mặt

Địa chỉ: Ấp E, xã T, thành phố M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11/11/2024, trên đường đi từ Thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Tiền Giang, anh Lê Văn T có gặp, chủ động làm quen và xin số điện thoại liên lạc với Trần Hồng N. Đến ngày 23/11/2024, anh T có hẹn gặp N uống cà phê ở đường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Sau khi uống cà phê xong, cả hai đi về và có hẹn ngày 24/11/2024 gặp nhau để cùng nhau đi mua gà bán kiếm lời.

Khoảng 10 giờ ngày 24/11/2024, anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ, biển số 71H1-100.55 đến quán cà phê NTK trên đường N thuộc xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang để gặp N uống cà phê. Một lát sau thì N điều khiển xe mô tô loại Wave, màu đỏ, biển số 51N1-8105 có 02 giỏ xách màu xanh đến, dựng phía trước quán cà phê, cả hai vào trong quán ngồi nói chuyện. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh T điều khiển xe 71H1-100.55 chở N đi ăn, xe của N đi cùng với 02 giỏ xách màu xanh vẫn để lại tại quán cà phê. Sau đó, cả hai vào thuê phòng số 3 tại nhà nghỉ T2 có địa chỉ số A đường P, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang để nghỉ trưa. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc anh T ngủ mê, N lén lút lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A50 màu trắng, 01 bóp da màu vàng bên trong có 1.150.000 đồng, một số giấy tờ cá nhân mang tên Lê Văn T và chìa khóa xe mô tô, tất cả tài sản để trong túi quần dài của anh T treo ở nhà vệ sinh trong phòng nghỉ số 3. Sau đó, N xuống bãi xe lấy xe mô tô của anh T tẩu thoát khỏi hiện trường. Khi đến cầu H thuộc Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì N ném điện thoại di động của anh T xuống sông B. Tiếp đó, N điều khiển xe trộm được đi đến Thành phố Hồ Chí Minh và cầm cố xe tại dịch vụ cầm đồ K (tên mới là Khang Gia), địa chỉ số D L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do chị Lê Thị K làm chủ, được số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó, N đón xe buýt về thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An ghé nhà người quen tên T1 ở vài ngày. Ngày 26/11/2024 Nương nhờ T1 chở ra T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang trả nợ 7.000.000 đồng cho người tên D để chuộc lại căn cước công dân đã cầm trước đó, còn số tiền 1.150.000 đồng Nương giữ lại để tiêu xài cá nhân. Trên đường quay về nhà T1 thì N có gặp người thu mua ve chai ở khu vực Phường G, thành phố T, tỉnh Long An nên đã đưa bóp da trộm được của anh T nhờ người này giao cho Công an, còn N không dám giao và về nhà do sợ bị phát hiện.

Ngày 29/11/2024 N điện thoại qua zalo cho anh T nói do thiếu nợ nên lỡ trộm đồ, cầm xe của anh T rồi. Đến 07 giờ ngày 30/11/2024, N điện thoại chỉ chỗ cho anh T lại rước Nương, rồi cả hai đến Khu vực Phường G, thành phố T, tỉnh Long An tìm người thu mua ve chai nhưng không tìm thấy nên vào Công an hỏi thì bị Công an giữ lại.

Bản kết luận định giá tài sản số 5597/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future màu đỏ, biển số 71H1-100.55 có giá trị 7.500.000 đồng; Điện thoại di động nhã hiệu Samsung số loại A50 màu trắng có giá trị 2.141.818 đồng; ví nam màu vàng, không nhãn hiệu có giá 20.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSMT ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Trần Hồng N để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

*Tại phiên tòa:

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Trần Hồng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • +Tuyên bố bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • +Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù.
  • +Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.
  • +Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, biển số 51N1-8105; 01 Áo khoác dài tay, màu nâu, có ba sọc trắng; 02 giỏ xách màu xanh.

-Bị cáo Trần Hồng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, bị cáo không bào chữa cho hành vi phạm tội. Nói lời sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là sai, bị cáo lần đầu phạm tội nên xin hứa sẽ không vi phạm pháp luật nữa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được về làm người công dân tốt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Trúc L xác định tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hồng N đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 24/11/2024, tại nhà nghỉ T2, địa chỉ số A đường P, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Hồng N lợi dụng lúc anh Lê Văn T ngủ mê đã lén lút lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A50 màu trắng; 01 bóp da màu vàng bên trong có 1.150.000 đồng; một số giấy tờ cá nhân mang tên Lê Văn T và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ, biển số 71H1-100.55. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.811.818 đồng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có ông ngoại là liệt sĩ, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Đối với người tên D, bị cáo khai đã dùng tiền cầm xe để trả nợ cho người này, nhà gần vòng xoay T. Qua xác minh, chưa phát hiện người tên D như bị cáo khai nên chưa tiến hành làm việc được, khi tìm được sẽ tiến hành làm việc sau.

[6] Đối với người tên T1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, tìm kiếm nhưng do bị cáo cung cấp thông tin không đủ để xác định nhân thân nên chưa phát hiện người có tên T1 như bị cáo khai.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại Lê Văn T đã nhận lại xe và các giấy tờ cá nhân, không có yêu cầu bồi thường gì về điện thoại di động Samsung A50 không thu hồi được và số tiền bị chiếm đoạt.
  • - Chị Lê Thị K đã được bồi thường tiền cầm xe, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • - Chị Trần Thị Trúc L tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo, không có yêu cầu hoàn trả.

Như vậy, trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên cần ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Cơ quan điều tra đã xử lý trả cho bị hại chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Future, màu đỏ, biển số 71H1-100.55 cùng các giấy tờ cá nhân, ví da là đúng quy định.
  • - Đối với điện thoại di động S, loại A50 màu trắng, bị cáo N khai đã ném xuống sông B thuộc Phường A, thành phố M. Cơ quan điều tra đã tiến hành tìm kiếm, trục vớt nhưng không tìm thấy.
  • - Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, biển số 51N1-8105, đứng tên trong giấy đăng ký là Nguyễn Tấn A, địa chỉ thường trú: Số A Ấp E, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua điều tra, xác minh tại Công an xã Đ được biết ở Ấp E không có địa chỉ số nhà A, rà soát trên địa bàn cũng không phát hiện người tên Nguyễn Tấn A. Theo bị cáo N khai, xe của gia đình bị cáo mua đã lâu, bị cáo sử dụng đi buôn bán và khi có hẹn với anh T đã để lại tại quán cà phê, bị cáo xin nhận lại xe. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • - 01 áo khoác dài tay, màu nâu, có ba sọc trắng; 02 giỏ xách màu xanh không chứa vật gì, là tài sản cá nhân của bị cáo và có yêu cầu nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50, Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Hồng N: 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/11/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận đã được giải quyết xong.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Trần Hồng N: 01 Xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, biển số 51N1-8105. Tình trạng khi tiếp nhận: Xe không nổ máy, không kính chiếu hậu, không kiểm tra tình trạng bên trong, có số khung RNTWCH2NT51201332, số máy VLFNT1P52FMH340201332; 01 Áo khoác dài tay, màu nâu, có ba sọc trắng; 02 Giỏ xách màu xanh, không chứa vật gì bên trong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/02/2025.)

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 38/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger