|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HSST Ngày 14 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: ông Trần Hữu Lực
Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Trung Thành
bà Trần Thị Kim Khuyên
Thư ký phiên toà: ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 07/03/2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Mạnh G, sinh ngày 26/9/1991; nơi cư trú: tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; bố đẻ: Nguyễn Văn L, sinh năm 1962; mẹ đẻ: Bùi Thị H, sinh năm 1962; vợ: Trần Thị Mỵ L1, sinh năm 1994; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 06/9/2024 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Trần Thị Mỵ L1, sinh ngày 10/3/1994; nơi cư trú: tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; bố đẻ: Trần Kim Q, sinh năm 1957; mẹ đẻ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Mạnh G, sinh năm 1991; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; nơi cư trú: TDP Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1990; nơi cư trú: TDP Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
- Ông Ngô Đình N1, sinh năm 1970; nơi cư trú: TDP Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
- Anh Hà Công D, sinh năm 1992; nơi cư trú: TDP C, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; nơi cư trú: số nhà A chung cư M, phường N, quận L, thành phố Hà Nội, vắng mặt
- Anh Hà Thế T1, sinh năm 1988; nơi cư trú: TDP Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2020 đến tháng 08/2024, Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 đã cho 06 người vay tiền với lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000₫/1.000.000đ/1 ngày (tương đương 109,5%/năm đến 182,5%/năm). G và L1 đều cho vay bằng tiền mặt tại nhà ở của mình thuộc tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Người vay trả lãi đều bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 sử dụng các số tài khoản ngân hàng là 2808205303673 của Ngân hàng N2 (A) và số tài khoản 0389532445 của Ngân hàng Q1 (M) để nhận tiền lãi, cụ thể như sau:
1. Từ tháng 02/2021 đến tháng 03/2023 G và L1 cho anh Nguyễn Văn T vay tiền nhiều lần, cụ thể:
- Lần 1: khoảng đầu tháng 02/2021 T vay 10.000.000₫ lãi suất thỏa thuận là 3.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Ngày 01/3/2021 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000đ.
- + Ngày 15/4/2021 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và Lương 900.000đ, và trả tiền gốc 10.000.000đ tiền mặt.
- Lần 2: Khoảng đầu tháng 12/2021 T vay 10.000.000₫ lãi suất thỏa thuận là 3.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Ngày 17/01/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫.
- + Ngày 16/02/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫.
- + Ngày 17/03/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫ và trả tiền gốc 10.000.000đ tiền mặt.
- Lần 3: ngày 23/02/2022 T vay 10.000.000₫ lãi suất thỏa thuận là 3.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Ngày 23/03/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫.
- + Ngày 25/4/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000đ.
- + Ngày 21/5/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000đ và vay thêm 5.000.000đ tiền gốc G đưa tiền mặt cho T. Tổng tiền gốc là 15.000.000₫, sau đó T tiếp tục trả lãi như sau:
- + Ngày 6/6/2022 và ngày 20/6/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 1.350.000₫.
- + Ngày 15/7/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫ và 450.000đ tiền mặt tổng là 1.350.000₫.
- + Ngày 04/8/2022 và ngày 16/8/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 1.350.000₫.
- + Tháng 9 và tháng 10/ 2022 T trả lãi bằng tiền mặt cho G và L1 mỗi tháng 1.350.000₫.
- + Ngày 07/11/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫ và 450.000đ tiền mặt tổng là 1.350.000₫.
- + Các ngày 05, 19 và 31/12/2022 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 1.350.000₫. Sau đó T vay thêm 10.000.000₫ tiền gốc, tổng tiền gốc là 25.000.000đ, sau đó T tiếp tục trả tiền lãi như sau:
- + Các ngày 13, 16 và 30/01/2023 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 2.250.000đ, sau đó T trả 10.000.000đ tiền gốc. Tổng tiền nợ gốc là 15.000.000đ. Sau đó T tiếp tục trả tiền lãi như sau:
- + Tháng 02/2023 và tháng 03/2023 mỗi tháng T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 1.350.000₫.
Cuối tháng 03/2023 T vay thêm 18.000.000₫ nữa. Tổng nợ gốc là 33.000.000đ, tiền lãi vẫn thỏa thuận là 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Tháng 4/2023 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 2.970.000đ.
- + Tháng 5/2023 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 2.920.000đ, còn thiếu 50.000đ tiền lãi G và L1 cho T.
- + Tháng 6,7 và 8/2023 mỗi tháng T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 2.970.000₫.
- + Tháng 9/2023 thủy trả cho G và L1 23.000.000đ tiền gốc còn nợ lại 10.000.000đ. Sau đó, do khó khăn về tài chính nên các tháng 9, 10, 11, 12/2023 T xin không đóng lãi nữa thì G và L1 đồng ý.
Đến ngày 06/02/2024 T chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 900.000₫ và trả 10.000.000đ tiền gốc.
Tổng cộng số tiền G và L1 cho T vay là 63.000.000đ. T đã trả đủ tiền gốc và đã trả tổng cộng 28.660.000đ tiền lãi. Trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 5.235.000đ; G và L1 thu lời bất chính là 23.425.000đ.
2. Từ tháng 05/2022 đến tháng 04/2024 G và L1 cho Nguyễn Minh P vay tiền 11 lần, tổng cộng số tiền vay là 80.000.000₫, lãi suất thỏa thuận là 5.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 182,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng, cụ thể:
- Lần 1: khoảng đầu tháng 5/2022 P vay 5.000.000đ, tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Các ngày 02/6, 29/6, 01/8, 29/8, 08/10/ 2022 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 05 lần mỗi lẫn 750.000đ, tổng là 3.750.000đ.
- Lần 2: ngày 25/10/2022 P vay thêm 5.000.000đ, như vậy cộng với số tiền nợ cũ thì tổng tiền gốc là 10.000.000đ, tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Các ngày 25/11, 27/12/2022, 19/01, 20/02/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 04 lần mỗi lẫn 1.500.000đ, tổng là 6.000.000₫.
- + Ngày 21/3/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 số tiền 1.450.000₫. (thiếu 50.000₫ do tháng thiếu một ngày).
- Lần 3: ngày 21/3/2023 P vay thêm 5.000.000đ, như vậy cộng với số tiền nợ cũ thì tổng tiền gốc là 15.000.000đ, tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Các ngày 25/4, 27/6, 24/7 và 19/9/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 04 lần mỗi lẫn 2.250.000đ, tổng là 9.000.000đ.
- + Các ngày 23/5, 23/8/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 02 lần mỗi lẫn 2.175.000đ, tổng là 4.350.000₫.(vì tháng âm thiếu 01 ngày).
Ngày 19/9/2023 P trả 15.000.000₫ tiền gốc cho G và L1.
- Lần 4: ngày 21/9/2023 P vay 5.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Ngày 30/9/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 250.000₫ (lãi 10 ngày) và trả tiền gốc 5.000.000đ.
- Lần 5: ngày 18/10/2023 P vay 5.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Ngày 26/10/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 225.000₫ (lãi 09 ngày).
- Lần 6: ngày 26/10/2023 P vay thêm 5.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 10.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Ngày 28/10/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 150.000đ (lãi 03 ngày).
- Lần 7: ngày 28/10/2023 G và L1 cho P vay thêm 10.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 20.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Ngày 03/11/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 700.000₫ (lãi 07 ngày).
- Lần 8: ngày 03/11/2023 P vay thêm 10.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 30.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Ngày 11/11/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 1.200.000₫ (lãi 08 ngày).
- Lần 9: ngày 11/11/2023 P vay thêm 10.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 40.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Ngày 04/12/2023 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 4.600.000₫ (lãi 23 ngày).
- Lần 10: ngày 04/12/2023 P vay thêm 10.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 50.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Các ngày 01,09,10/01/2024 Phương chuyển khoản trả lãi cho G và L1 7.500.000₫.
- + Ngày 03/02/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 7.500.000₫.
- + Ngày 04/03/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 7.500.000₫.
- Lần 11: ngày 14/4/2024 P vay thêm 10.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 60.000.000đ, tiền lãi giảm xuống còn 3.000đ/1 triệu/ 1 ngày, tiền lãi trả như sau:
- + Các ngày 15/5/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 5.340.000đ, ngày 05/6/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 1.000.000đ, ngày 05/7/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 3.000.000đ, ngày 05/8/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 2.540.000đ, ngày 16/8/2024 P chuyển khoản trả lãi cho G và L1 3.000.000₫. P nợ tiền lãi các tháng 5, 6, 7, 8 là 7.020.000₫ nhưng do khó khăn về tài chính nên P xin và được G, L1 đồng ý cho và chỉ yêu cầu trả tiền gốc còn nợ lại.
Như vậy, tổng cộng số tiền G và L1 cho P vay là 80.000.000₫. P đã trả 20.000.000₫ tiền gốc, còn nợ 60.000.000đ tiền gốc và đã trả tổng cộng 69.055.000đ tiền lãi. Trong đó: tiền lãi G và L1 thu được đối với khoản cho vay 5000đ/1 triệu/ 1 ngày là: 54.175.000đ (tiền lãi tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 5.937.000đ; thu lời bất chính là 48.238.000₫), và tiền lãi thu được đối với khoản cho vay 3000đ/1 triệu/ 1 ngày là 14.880.000đ(tiền lãi tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 2.718.000đ; thu lời bất chính là 12.162.000đ). Như vậy, tổng tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 8.655.000đ; tổng số tiền G và L1 thu lời bất chính là 60.400.000₫.
3. Từ tháng 12/2022 đến tháng 01/2023 G và L1 cho Ngô Đình N1 vay tiền 30.000.000đ, lãi suất thỏa thuận là 3.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng, cụ thể:
- + Tháng 01/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 1.530.000đ (còn nợ lãi 1.170.000₫ nhưng G và L1 cho N1).
- + Tháng 02/2023 N1 trả lãi cho G và L1 2.700.000đ (trả tiền mặt).
- + Tháng 03/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 1.100.000₫ (còn nợ lãi 1.600.000₫ nhưng G và L1 cho N1).
- + Tháng 04/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 2.400.000₫ (còn nợ lãi 300.000₫ nhưng G và L1 cho N1).
- + Tháng 05/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 2.700.000đ.
- + Tháng 06/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 2.000.000₫ (còn nợ lãi 700.000₫ nhưng G và L1 cho N1).
- + Tháng 07/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 1.200.000₫ (còn nợ lãi 1.500.000₫ nhưng G và L1 cho N1).
- + Tháng 08/2023 N1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 1.800.000đ (còn nợ lãi 900.000₫ nhưng G và L1 cho N1). Sau đó, N1 đã trả tiền gốc 30.000.000₫ cho G và L1.
Như vậy, tổng cộng số tiền G và L1 cho N1 vay là 30.000.000đ. N1 đã trả đủ 30.000.000đ tiền gốc và đã trả tổng cộng 15.430.000đ tiền lãi. Trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 2.818.000đ; G và L1 thu lời bất chính là 12.612.000₫.
4. Từ tháng 03/2022 đến tháng 6/2022 G và L1 cho Hà Công D, vay tiền 03 lần, tổng cộng số tiền vay là 95.000.000đ, lãi suất thỏa thuận là 3.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng đầu tháng 03/2022 D vay 5.000.000₫, tiền lãi trả như sau:
- + Tháng 4/2022 D chuyển khoản trả lãi cho G và L1 450.000đ.
- Lần 2: Tháng 4/2022 D vay thêm 30.000.000đ, như vậy tổng tiền gốc là 35.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Tháng 5/2022 D chuyển khoản trả lãi cho G và L1 3.150.000₫.
- + Tháng 6/2022 D chuyển khoản trả lãi cho G và L1 3.150.000₫ và đã trả 35.000.000đ tiền gốc cho G và L1.
- Lần 3: Khoảng giữa tháng 06/2022 D vay 30.000.000đ, tiền lãi trả như sau: Tháng 7/2022 D chuyển khoản trả lãi cho G và L1 2.700.000đ. Sau đó D vay thêm 10.000.000₫ nữa, tổng tiền gốc là 40.000.000đ, tiền lãi trả như sau:
- + Tháng 08/2022 D chuyển khoản trả lãi cho G và L1 3.600.000đ. sau đó vay thêm 20.000.000₫ nữa, tổng tiền gốc là 60.000.000đ, tiền lãi trả như sau: tháng 09/2022 D chuyển khoản trả lãi cho G và L1 5.400.000₫ và trả tiền gốc 40.000.000đ, còn nợ 20.000.000đ tiền gốc.
- + Tháng 10 và tháng 11/2022 mỗi tháng D chuyển khoản trả tiền lãi cho G và L1 1.800.000₫ tiền lãi, tổng là 3.600.000₫ và đã trả 20.000.000đ tiền gốc.
Như vậy, D đã trả đủ 95.000.000₫ tiền gốc và đã trả tổng cộng 22.050.000₫ tiền lãi. Trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 4.027.000đ; G và L1 thu lời bất chính là 18.023.000₫.
5. Từ tháng 01/2023 đến tháng 10/2023 G và L1 cho Nguyễn Văn Đ vay tiền 02 lần, tổng cộng số tiền vay là 20.000.000₫, lãi suất thỏa thuận là 3.000₫/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng đầu tháng 12/2022 Đ vay 10.000.000đ, tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Các ngày 03/01/2023, 09/02/2023, 01/3/2023, 01/4/2023, 08/5/2023, 11/6/2023, 10/8/2023, 04/9/2023, 09/10/2023 Đ chuyển khoản trả lãi cho G và L1 10 lần mỗi lần 900.000đ, tổng là 9.000.000đ. Tháng 10/2023 Đ trả tiền gốc 10.000.000đ cho G và L1.
- Lần 2: Khoảng đầu tháng 01/2023 Đ vay 10.000.000đ, tiền lãi trả theo tháng như sau:
- + Các ngày 30/01/2023, 16/02/2023, 15/3/2023 Đương chuyển khoản trả lãi cho G và L1 03 lần mỗi lần 900.000₫ và các tháng 4, 5, 6/2023 trả tiền mặt mỗi tháng 900.000, tổng là 5.400.000đ. Tháng 6/2023 Đ trả tiền gốc 10.000.000₫ cho G và L1.
Như vậy, Đ đã trả đủ tiền gốc cho G và L1 là 20.000.000₫ và đã trả tổng cộng 14.400.000đ tiền lãi. Trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 2.630.000đ; G và L1 thu lời bất chính là 11.770.000₫.
6. Khoảng đầu tháng 08/2020 G và L1 cho Hà Thế T1 vay tiền 10.000.000₫, lãi suất thỏa thuận là 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày (tương ứng mức lãi suất là 109,5%/năm), tiền lãi trả theo tháng, cụ thể:
- + Các tháng 09, 10, 11, 12/2020 và tháng 01, 02, 03, 04/2021 T1 chuyển khoản trả lãi cho G và L1 08 lần mỗi lần 900.000đ, tổng là 7.200.000₫. Sau đó, tháng 04/2021 T1 đã trả 10.000.000đ tiền gốc cho G và L1.
Như vậy, T1 đã trả tiền gốc cho G và L1 10.000.000₫ và đã trả tổng cộng 7.200.000đ tiền lãi. Trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 1.315.000đ; G và L1 thu lời bất chính là 5.885.000₫.
Như vậy, từ tháng 08/2020 đến tháng 08/2024, Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 đã cho 06 người vay lãi nặng với tổng số tiền gốc cho vay là 298.000.000đ. Tổng số tiền gốc người vay đã trả: 238.000.000đ. Tổng số tiền nợ gốc người vay chưa trả cho G và L1: 60.000.000đ, trong đó: Nguyễn Minh P 60.000.000đ. Tổng số tiền lãi đã thu được: 156., trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 24.680.000đ; số tiền thu lời bất chính là 132.115.000₫.
Do có đơn tố giác của quần chúng nhân dân và biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên ngày 28/8/2024, Nguyễn Mạnh G đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Sau đó, Cơ quan điều tra triệu tập Trần Thị Mỵ L1 lên làm việc, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện L, G đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13, màn hình cảm ứng, màu xanh, số IMEI 1: 354690577997653, IMEI 2: 355864867997652, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng; L1 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu vàng, số IMEI 1: 353324654238564, IMEI 2: 353324654249736, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, CQĐT Công an huyện L đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 225 và 226 cùng ngày 09/9/2024: yêu cầu Ngân hàng Q1 (M) - Chi nhánh V phong tỏa số tiền 57.714.112đ trong tài khoản số 0389531445 của Trần Thị Mỵ L1 và Ngân hàng N2 (A) - Chi nhánh V phong tỏa số tiền 10.678.220đ trong tài khoản số 2808205303673 của Trần Thị Mỵ L1.
Quá trình điều tra, CQĐT đã yêu cầu Ngân hàng N2 - chi nhánh huyện L; Ngân hàng Q1 (M1); sao kê tài khoản của Trần Thị Mỵ L1 kết quả thể hiện việc nhận tiền lãi hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKS- LT ngày 10 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo G và bị cáo L1. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; riêng bị cáo L1 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Mạnh G từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm.
- - Bị cáo Trần Thị Mỵ L1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng.
Giao bị cáo Nguyễn Mạnh G, Trần Thị Mỵ L1 cho UBND thị trấn H quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật dân sự, phạt bị cáo Nguyễn Mạnh G, Trần Thị Mỵ L1 mỗi bị cáo 30.000.000₫ để sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13, màn hình cảm ứng, màu xanh, số IMEI 1: 354690577997653, IMEI 2: 355864867997652, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh G và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu vàng, số IMEI 1: 353324654238564, IMEI 2: 353324654249736, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Trần Thị Mỵ L1.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 khai nhận trong khoảng thời gian từ tháng 08/2020 đến tháng 08/2024, Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 đã cho 06 người vay tiền với lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000₫/1.000.000đ/1 ngày (tương đương 109,5%/năm đến 182,5%/năm). G và L1 đều cho vay bằng tiền mặt tại nhà ở của mình thuộc tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Người vay trả lãi đều bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 sử dụng các số tài khoản ngân hàng là 2808205303673 của Ngân hàng N2 (A) và số tài khoản 0389532445 của Ngân hàng Q1 (M) để nhận tiền lãi, như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng, ngoài ra không có lời bào chữa nào khác và không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tài liệu điều tra trong hồ sơ thể hiện: Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2020 đến tháng 08/2024, tại nhà ở của Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 ở tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, G và L1 đã cho Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh P, Ngô Đình N1, Hà Công D, Nguyễn Văn Đ, Hà Thế T1 vay lãi nặng với mức lãi suất từ 3.000đ đến 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày, tương đương 109,5%/năm đến 182,5%/năm (gấp từ 5,47 đến 9,12 lần lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm). Tổng số tiền gốc G và L1 cho vay là 298.000.000đ, số tiền nợ gốc người vay đã trả cho G và L1 là 238.000.000đ, số tiền nợ gốc người vay chưa trả là 60.000.000đ. Số tiền lãi đã thu là 156., trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 24.680.000đ; số tiền G và L1 thu lời bất chính là 132.115.000₫.
Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định: ““1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. 2. Phạm tội mà thu lời bất chính 100.000.000đ trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."
Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, mặc dù bản thân các bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do mục đích thu lợi bất chính, tư lợi cá nhân mà các bị cáo xem thường pháp luật, các bị cáo đã cho vay với mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm, cao gấp từ 5,47 đến 9,12 lần của mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự tổng cộng với số tiền 132.115.000₫ đồng. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Mạnh Giàu C vai trò chính, là người khởi xướng, trực tiếp cho vay và quy định mức lãi suất vượt quy định. Bị cáo Trần Thị Mỵ L1 là đồng phạm giúp sức cho bị cáo G trong việc cho vay và thu lãi. Do vậy mức hình phạt dành cho bị cáo G sẽ cao hơn bị cáo L1.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy rằng bị cáo G năm 2013 đã bị xử lý về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và đã được xóa án tích nhưng bị cáo lại không lấy đó làm bài học mà lại phạm tội do cố ý; tuy nhiên sau khi phạm tội cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo G sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra đầu thú, bị cáo L1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố đẻ của bị cáo L1 được tặng thưởng giấy khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào “cựu chiến binh gương mẫu” giai đoạn 2019 - 2024 và giấy khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2015 - 2020, nên bị cáo G được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo L1 được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đó là những tình tiết được xem xét để làm căn cứ giảm nhẹ một phần mức trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, xét thấy cả hai bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần phạt hai bị cáo mức án tù cho hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách nhất định, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương. Như vậy cũng đủ điều kiện để các bị cáo tự cải tạo mình trở thành người công dân có ích cho xã hội và và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định: “3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Việc thu lợi bất chính phục vụ cho sinh hoạt chung của hai vợ chồng bị cáo, tuy nhiên hai vợ chồng bị cáo làm lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Do vậy chỉ cần xử phạt bổ sung đối với bị cáo G.
[3] Về xử lý số tiền liên quan và vật chứng vụ án: Số tiền 238.000.000₫ là số tiền gốc mà G và L1 đã dung để cho vay người vay đã trả và số tiền gốc mà Nguyễn Minh P chưa trả cho G và L1 là 60.000.000đ, xét thấy bị cáo G và L1 đã sử dụng vào việc phạm tội, do vậy cần truy thu của bị cáo G và L1 số tiền 238.000.000₫ và truy thu của anh Nguyễn Minh P số tiền 60.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 24.680.000 đồng mà bị cáo G và L1 thu lãi được tương ứng với 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, tuy không xác định trách nhiệm hình sự, nhưng là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo G và L1 số tiền trên để sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 132.115.000₫ của những người vay vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, xét thấy đây là tiền mà vợ chồng bị cáo G thu lời bất chính nên cần buộc bị cáo G và L1 trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: Nguyễn Văn T 23.425.000đ, Nguyễn Minh P 60.400.000đ, Ngô Đình N1 12.612.000đ, Hà Công D 18.023.000đ, Nguyễn Văn Đ 11.770.000đ, Hà Thế T1 5.885.000₫.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13, màn hình cảm ứng, màu xanh, số IMEI 1: 354690577997653, IMEI 2: 355864867997652, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh G và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu vàng, số IMEI 1: 353324654238564, IMEI 2: 353324654249736, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Trần Thị Mỵ L1. Xét thấy đây là điện thoại các bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh G, Trần Thị Mỵ L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh G, Trần Thị Mỵ L1 phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Mỵ L1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 10 (mười) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Mạnh G, Trần Thị Mỵ L1 cho UBND thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc quản lý, giám sát, giáo dục dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp các bị cáo có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Mạnh G 30.000.000₫ sung quỹ Nhà nước
Về xử lý số tiền liên quan và vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, Điều 26 Luật thi hành án dân sự:
Tịch thu của Nguyễn Mạnh G 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13, màn hình cảm ứng, màu xanh, số IMEI 1: 354690577997653, IMEI 2: 355864867997652, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng và của Trần Thị Mỵ L1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu vàng, số IMEI 1: 353324654238564, IMEI 2: 353324654249736, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng để bán sung quỹ Nhà nước.
Quá trình điều tra, CQĐT Công an huyện L đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 225 và 226 cùng ngày 09/9/2024: yêu cầu Ngân hàng Q1 (M) - Chi nhánh V phong tỏa số tiền 57.714.112đ trong tài khoản số 0389531445 của Trần Thị Mỵ L1 và Ngân hàng N2 (A) - Chi nhánh V phong tỏa số tiền 10.678.220đ trong tài khoản số 2808205303673 của Trần Thị Mỵ L1.
Truy thu của bị cáo Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 238.000.000đ; của Nguyễn Minh P 60.000.000₫ để sung quỹ Nhà nước.
Truy thu sung của bị cáo Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 số tiền 24.680.000 đồng để sung quỹ Nhà nước
Buộc Nguyễn Mạnh G và Trần Thị Mỵ L1 trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: anh Nguyễn Văn T 23.425.000đ; anh Nguyễn Minh P 60.400.000₫; ông Ngô Đình N1 12.612.000đ; anh Hà Công D 18.023.000₫; anh Nguyễn Văn Đ 11.770.000đ; anh Hà Thế T1 5.885.000₫.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Gỡ phong tỏa tài khoản số tiền 57.714.112₫ trong tài khoản số 0389531445- Ngân hàng Q1 (M) - Chi nhánh V của Trần Thị Mỵ L1 và số tiền 10.678.220đ trong tài khoản số 2808205303673 - Ngân hàng N2 (A) - Chi nhánh V của Trần Thị Mỵ L1.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Mạnh G, Trần Thị Mỵ L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Trần Hữu Lực |
Bản án số 38/2025/HSST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 38/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Giàu cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
