Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*****

Bản án số 38/2025/HSST

Ngày: 14/2/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Chu Thị Tuyết
  2. Ông Nguyễn Quang Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Chu Văn Quang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 302/2024/TLST-HS ngày 11/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 13/01/2025 đối với bị cáo:

Dương Thị Thúy N, sinh ngày 13/9/1999; nơi cư trú: Số B C, M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Viết T và bà Nguyễn Thị T1; tiền án, tiền sự: Không

D chỉ bản số 526 lập ngày 07/11/2024 tại Công an quận T; bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024 đến ngày 08/11/2024 hủy bỏ quyết định tạm giữ và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Duy T2, sinh năm 2002; trú tại: Số E P, tổ B phường N, quận C, Hà Nội (Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).
  2. Chị Phan Diệu L, sinh năm 2002; trú tại: Thôn B, xã L, huyện H, Hà Nội (Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 31/10/2024, tổ công tác thuộc Đ Công an quận T phối hợp với Đội Quản lý hành chính Công an phường N tiến hành kiểm tra hành chính tại khách sạn S, số A Lô E khu D, T, Hà Nội. Thời điểm kiểm tra phát hiện tại phòng 702 của khách sạn có Phan Diệu L và Nguyễn Duy T2 đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, yêu cầu L và T2 về trụ sở để xác minh, làm rõ hành vi vi phạm. Tại cơ quan công an, L và T2 khai nhận hành vi mua bán dâm của bản thân và khai Dương Thị Thúy N đã môi giới mại dâm cho L và T2. Căn cứ tài liệu thu thập được, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Dương Thị Thúy N, Mai Văn H (Sinh năm: 1983, HKTT: SỐ E P, Điện Biên, thành phố T, Thanh Hóa), Đỗ Tùng L1 (Sinh năm: 1993, HKTT: 40 ngõ V, C, H, Hà Nội) về trụ sở để làm rõ nội dung sự việc.

- Cơ quan điều tra thu giữ của Phan Diệu L:

  • + 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu xám, dung lượng 256Gb, có số Imei: 355319546092649; imei2: 355319546219770, lắp sim số 0965898836, đã qua sử dụng.
  • + Số tiền 10.000.000 đồng.

- Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Duy T2:

  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+, số I: 354359082718109, Imei2: 354360082718107, lắp sim số: 0878205344.

- Cơ quan điều tra thu giữ của Dương Thị Thúy N:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max màu vàng, số Imei: 351613320020832, lắp sim số: 0813003333, đã qua sử dụng.
  • + Số tiền 500.000 đồng

Tại cơ quan điều tra, Dương Thị Thúy N khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, Nguyễn Duy T2, Mai Văn H, Đỗ Tùng L1 và T3 (là bạn xã hội N không biết nhân thân lai lịch) ăn uống cùng nhau tại nhà hàng B Mộc ở B52 N, N, T, Hà Nội. T3 gọi cho Dương Thị Thúy N đến ngồi tiếp rượu. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N đến quán nhậu trên. T2 nhắn tin qua Zalo với N và nhờ N tìm cho mình 01 gái bán dâm, N là gái bán dâm nên ngỏ ý muốn bán dâm cho T2 nhưng T2 không muốn mua dâm N và nhờ N tìm cho T2 gái bán dâm khác. N nhắn tin bằng ứng dụng Messenger cho Phan Diệu L báo có khách muốn mua dâm và xin ảnh của L cho T2 xem. Sau khi xem ảnh L, T2 đồng ý mua dâm. L yêu cầu giá bán dâm là 10.000.000 đồng. T2 đồng ý.

Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, L đến quán ăn. Sau khi gặp L, T2 đưa cho N 10.500.000 đồng (gồm 10.000.000 đồng tiền mua dâm và 500.000 đồng tiền công môi giới của N). N giữ lại 500.000 đồng và đưa cho L 10.000.000 đồng. Sau đó, T2 và L rời khỏi quán ăn, đến khách sạn S, N, T, Hà Nội thuê phòng 702 để cả hai quan hệ tình dục. Khi T2 và L đang quan hệ tình dục với nhau thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Dương Thị Thúy N, Mai Văn H, Đỗ Tùng L1 để làm rõ nội dung sự việc (thời điểm triệu tập N, H, L1 vẫn đang ngồi ăn uống tại quán ăn B1, N, T, Hà Nội, T3 đã đi về trước).

Tại Cáo trạng số 278/CT-VKSTX ngày 28/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Dương Thị Thúy Nga về tội Môi giới mại dâm quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 328; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Thị Thúy N từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 03 chiếc điện thoại di động đã thu giữ và số tiền 10.500.000 đồng.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 31/10/2024, tại B52 N, N, T, Hà Nội, Dương Thị Thúy N (là gái bán dâm) đã thực hiện hành vi làm trung gian liên hệ, dẫn dắt cho Nguyễn Duy T2 mua dâm Phan Diệu L, hưởng lợi số tiền 500.000 đồng.

Hành vi của Dương Thị Thúy N đã phạm tội Môi giới mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến đạo đức, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến sức khoẻ con người, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Mại dâm là một tệ nạn xã hội gây ra nhiều tác hại cho đời sống, là nguyên nhân của các bệnh truyền nhiễm như HIV, AIDS. Vì vậy cần phải có mức hình phạt phù hợp, tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, chăm sóc gia đình, tu dưỡng bản thân để phát triển thành người công dân có ích, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo và của Nguyễn Duy T2, Phan Diệu L là phương tiện để các đối tượng liên lạc môi giới mại dâm, mua dâm, bán dâm nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 10.500.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng là tiền Phan Diệu L bán dâm được hưởng và 500.000 đồng là tiền bị cáo được hưởng từ việc môi giới mại dâm, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[6] Đối với Phan Diệu L có hành vi bán dâm, ngày 27/11/2024, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 148/QĐ-XPHC theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ.

Đối với Nguyễn Duy T2 có hành vi mua dâm, ngày 27/11/2024, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPHC theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ.

Đối với Mai Văn H, Đỗ Tùng L1 và T3 quá trình điều tra xác định việc trao đổi, thỏa thuận mua bán dâm, bị cáo N nhắn tin riêng với L và T2. H, L1, T3 không biết nội dung nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[7] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 328; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Dương Thị Thúy N phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  2. Xử phạt Dương Thị Thúy N 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo N cho UBND phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max màu vàng, số Imei: 351613320020832, đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+, số I: 354359082718109, Imei2: 354360082718107, đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu xám, dung lượng 256Gb, có số Imei: 355319546092649; imei2: 355319546219770, đã qua sử dụng.
  • (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).
  • - Số tiền 10.500.000 (mười triệu, năm trăm nghìn) đồng (theo Uỷ nhiệm chi ngày 17/12/2024 của Công an quận T).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;;
  • - Lưu HS, VT.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

BỘ CÔNG AN – VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN TỐI CAO – TÒA ÁN

NHÂN DÂN TỐI CAO – BỘ TƯ

PHÁP

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

SỐ: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-

TANDTC-BTP

Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2015

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỂM CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

SỐ 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPCAO, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN ÁP

DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI CHƯƠNG XVIII “CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY” CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

Căn cứ Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Căn cứ Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26/6/2015 của Quốc hội khóa XIII về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự;

Bộ trưởng Bộ C1, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPBỘ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT),

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT

1. Sửa đổi, bổ sung điểm a tiết 1.1 mục 1 Phần I như sau:

“a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính, trọng lượng chất ma túy đó.

Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin".

2. Sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau:

“1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng đẻ xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

  1. Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;
  2. C ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;
  3. Xái thuốc phiện;
  4. T4 gây nghiện, thuốc hướng thần;

Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật.

Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy.

Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi... thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.

Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.”

Điều 2. Quy định chuyển tiếp

  1. Đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, nếu các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT thì được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
  2. Đối với các trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án đúng theo Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không áp dụng hướng dẫn của Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

Điều 3. Hiệu lực thi hành

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2015. Bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 mục 3 Phần II; điểm b tiết 7.3 mục 7 Phần II; mục 8 Phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT.

Điều 4. Trách nhiệm thi hành

  1. Các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này.
  2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp để có hướng dẫn kịp thời.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN về vụ án hình sự về tội môi giới mại dâm

  • Số bản án: 38/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger