Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số 38/2025/HSST

Ngày 13 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Ong Văn Chúc- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 01/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Thân Thị M, sinh năm 1978. Giới tính: Nữ.
    • - Tên gọi khác: Không.
    • - Trú tại: tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
    • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
    • - Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12.
    • - Con ông: Thân Văn S và bà Thân Thị N.
    • - Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba.
    • - Chồng: Trần Hữu T, sinh năm 1977.
    • - Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005.
    • - Tiền án, tiền sự: Không.
    • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Trần Hữu T, sinh năm 1977. Giới tính: Nam.
    • - Tên gọi khác: Không.
    • - Trú tại: tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
    • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
    • - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12.
    • - Con ông: Trần Hữu L và bà: Bùi Thị L1.
    • - Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ ba.
    • - Vợ: Thân Thị M, sinh năm 1978.
    • - Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005.
    • - Tiền án, tiền sự: Không.
    • Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn D sinh năm 1977. Cư trú tại: Tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 6/2024, Thân Thị M- sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang mở quán bán nước tại khu vực gầm cầu vượt thuộc tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quá trình bán nước tại đây, có nhiều người là công nhân làm trong khu công nghiệp Q đến quán uống nước và hỏi mua số lô, số đề. Nhận thấy có thể kiếm lời từ việc bán số, lô số đề nên M tìm người làm chủ lô. M tự khai nhận thông qua mối quan hệ xã hội M biết Phạm Văn D- sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cùng ở tổ dân phố làm chủ đề. Khoảng 08 giờ ngày 17/12/2024, M đi bộ một mình ở ngoài thì gặp D đang đi bộ ở gần nhà; M đặt vấn đề trực tiếp với D, M chuyển cáp đề cho D thì D đồng ý và thỏa thuận thuận tỷ lệ ăn chia như sau: Minh bán số lô cho khách với giá 23.000 đồng/1 điểm; M chuyển các số lô đã bán cho D với giá 22.600 đồng/1 điểm, M được hưởng 400 đồng/1 điểm; còn các số đề, lô xiên sẽ trả sau tùy vào số tiền bán số đề, số lô xiên của M, sẽ thanh toán tiền bán số lô, số đề trong ngày, thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. M và D cho tài khoản zalo của nhau. Tài khoản zalo của D là “Cô chủ mới”. M sử dụng 02 chiếc điện thoại. Trong đó: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím sử dụng tài khoản zalo tên “Mốc” đăng ký bằng số điện thoại 0382.228.xxx là điện thoại chính, liên lạc hàng ngày; còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 sử dụng tài khoản zalo “Anh Cả” (không nhớ số điện thoại đăng ký) là điện thoại phụ mới mua, M có mục đích sử dụng điện thoại có zalo “Anh Cả” chuyên để gửi cáp đề cho D; chồng M là Trần Hữu T sử dụng điện di động nhãn hiệu Xiaomi số điện thoại 0986.254.xxx có tài khoản zalo “Tập Cận B”.

Hình thức đánh bạc như sau: M sử dụng kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày để tính thắng thua số lô, số đề đã bán cho khánh để thanh toán số tiền đánh bạc. Số lô thì so sánh với hai số cuối của tất cả các giải. Nếu khách trúng thì mỗi một điểm lô, bán cho khách thì phải trả cho khách là 80.000 đồng. Nếu khách không trúng thì M sẽ được toàn bộ số tiền khách bỏ ra để mua số lô (23.000 đồng/1 điểm). Đối với số lô xiên (xiên 02 cặp số hoặc xiên 3 cặp số hoặc nhiều hơn) thì so cách các cặp số ở tất cả các giải. Đối với số đề thì so sánh với hai số cuối của giải Đặc biệt. Nếu khách trúng thì M sẽ phải trả cho khách số tiền bằng 80 lần số tiền khách bỏ ra để mua số đề. Nếu khách có lô xiên trúng thì trả gấp 10 lần. Nếu khách không trúng thì M sẽ được toàn bộ số tiền khách bỏ ra mua. Đối với cặp số lô xiên 2, nếu hai số chơi trùng với hai số cuối của hai số trong bất kỳ giải nào thì người chơi được trả gấp 10 lần số tiền đã đặt, nếu thua thì mất số tiền đã đặt đó.

Sau khi bàn bạc với D xong, M đi ra quán nước chuẩn bị 01 bút bi, lấy vỏ bao cây thuốc lá thăng long, M xé tay thành những cáp đề nhỏ ghi số lô số đề M sẽ ghi những số lô, số đề vào tờ cáp đề này. M giữ lại tờ cáp đề này và thỏa thuận với khách nếu đến giờ mở thưởng mà trúng số lô, số đề thì đến gặp M tại quán, nói số lô, số đề đã mua để thanh toán tiền, M nhớ được khách đến mua. Do đây là lần đầu M bán số lô, số đề nên M không ghi vào cáp tổng, không gửi lại cáp cho khánh vì sợ bị phát hiện. Sau khi ghi số lô, số đề cho khách M sẽ sử dụng điện thoại chụp lại và dùng zalo “Anh Cả” gửi cáp đề đến zalo “Cô chủ mới” của D. Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2024, M đang ở quán nước thì chồng M là Trần Hữu T ra bán hàng thay cho M để M về ăn cơm. M mang cả hai chiếc điện thoại về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 17/12/2024, M ăn cơm xong đi bộ ra quán nước để bán hàng. Khi ra đến nơi M phát hiện quên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 có tài khoản zalo “Anh Cả” tại bàn ăn nên M nói với chồng là: để quên điện thoại có zalo “Anh Cả” ở nhà, chiều M gửi số lô, số đề từ zalo “Mốc” đến zalo “Anh Cả” và nếu ai gửi số lô, số đề vào zalo “Anh Cả” thì chuyển đi đến zalo “Cô chủ mới” cho kịp giờ”. Tức là M đề nghị chồng chuyển cáp đề mà M gửi từ zalo “Mốc” đến zalo “Anh Cả” và người khác mua số lô, số đề với zalo “Anh Cả” thì chồng M là T sẽ chuyển tất cả các cáp đề giúp M đến anh D trước 18 giờ 30 ngày 17/12/2024. T nói “Ừ” là đồng ý giúp M chuyển cáp đề. Trong ngày 17/12/2024, M đã trực tiếp bán số lô số đề cho ba người chơi cụ thể như sau:

Khoảng 08 giờ 30 cùng ngày 17/12/2024, M đang ngồi ở quán một mình thì có một nam thanh niên M không biết họ tên địa chỉ cụ thể đến hỏi mua số lô, số đề của M ghi vào cáp đề đã chuẩn bị từ trước gồm: lô số 42 với giá 10 điểm hết số tiền 230.000 đồng; lô số 10 với giá 5 điểm hết 115.000 đồng; lô xiên 3 cặp số (10-42-21), (05-88-24) mỗi cặp số giá 100.000 đồng; đề “giải đặc biệt) số 21 với giá 35.000 đồng, số 42 với giá 40.000 đồng. Tổng số tiền M đã bán cho khách là 620.000 đồng; M ghi các số đề trên vào mảnh tờ giấy, dùng điện thoại chụp lại hình ảnh cáp đề rồi đưa cáp đề cho người nam thanh niên này, người này nói với M là cho nợ chiều quay lại trả tiền và được M đồng ý. Sau đó, người nam thanh niên này điều khiển xe mô tô dời đi, M sử dụng điện thoại di động có tài khảon zalo “Mốc” gửi hình ảnh cáp đề đến tài khoản zalo “Anh Cả”, chưa chuyển cáp đề cho tài khoản zalo “Cô chủ mới”. Đối với hình ảnh cáp đề trong điện thoại và hình ảnh cáp đề trong tài khoản zalo “Mốc” M đã xóa.

Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 17/12/2024, M đang ở quán nước thì có một nam thanh niên tự giới thiệu quê ở Lạng Sơn, đeo khẩu trang đến mua số lô, số đề. M đã ghi vào 01 tờ cáp đề bằng vỏ cây thuốc lá thăng long gồm lô số 57, 21, 35, 33, 62 mỗi số 10 điểm hết tổng số tiền 1.150.000 đồng; đề “giải đặc biệt” gồm các số 53, 03, 14, 33, 94 mỗi số 20.000 đồng hết tổng số tiền 100.000 đồng. Tổng số tiền M bán số lô, số đề cho người nam thanh niên này là 1.250.000 đồng. M ghi các số đề trên vào mảnh tờ giấy, dùng điện thoại chụp lại hình ảnh cáp đề rồi đưa cáp đề cho người nam thanh niên này và người này đưa cho M số tiền 1.250.00 đồng, M cầm tiền cất vào túi áo đang mặc trên người. M tiếp tục sử dụng điện thoại di động có tài khoản zalo “Mốc” gửi cáp đề đến tài khoản zalo “Anh Cả”; còn hình ảnh cáp đề trong điện thoại và hình ảnh cáp đề trong tài khoản zalo “Mốc” M đã xóa.

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 17/12/2024, M đang ở quán nước thì có đối tượng tự khai là Hoàng Văn N1- sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đến hỏi mua số lô, số đề. M đã ghi vào 01 tờ cáp đề bằng vỏ cây thuốc lá thăng long gồm: đề “hai giải đặc biệt và giải nhất” gồm các số 14, 41, 47, 74, 25 mỗi số 50.000 đồng hết số tiền 500.000 đồng; lô số 31 với giá 20 điểm hết tổng số tiền 460.000 đồng; lô số 29, 41, 25 mỗi số 50 điểm hết tổng số tiền 3.450.000 đồng; lô xiên 2 gồm cặp số (29-41), (29-25) mỗi cặp 250.000 đồng hết tổng tiền 500.000 đồng. Tổng cộng số tiền M bán số lô, số đề cho N1 là 4.910.000 đồng. M ghi các số đề trên vào mảnh tờ giấy để trên mặt bàn rồi N1 đưa 4.910.000 đồng cho M, M cầm tiền để trên mặt bàn và tờ cáp đề M vẫn để trên mặt bàn định chụp ảnh cáp đề để gửi vào tài khoản zalo “Anh cả” thì L2 Công an bị bắt quả tang. Tang vật thu giữ trên mặt bàn nhựa màu đỏ mận gồm: 02 (hai) mảnh cáp đề bằng bìa của cây thuốc lá T, một mảnh có kích thước to, một ảnh có kích thước bé hơn, mặt trong có ghi chữ và số. Trong đó: Tờ cáp đề thứ nhất bằng bìa cây thuốc lá Thăng Long có kích thước lớn ghi các số lô, số đề (ký hiệu giám định A1); Tờ cáp đề thứ hai bằng bìa cây thuốc lá Thăng Long có kích thước nhỏ ghi các số lô, số đề (ký hiệu giám định A2); Thân Thị M tự nguyện giao nộp: số tiền 6.160.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím số imei 868613043188979; 01 Bút bi mà đen; 01 bàn nhựa màu đỏ mận; 01 ghế nhựa màu xanh.

Tại cơ quan điều tra, Trần Hữu T khai nhận về hành vi giúp sức Thân Thị M chuyển cáp đề cho M đến tài khoản zalo “Cô chủ mới” tổng số 03 người chơi, cụ thể: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 17/12/2024, khi đang ở nhà tại tổ dân phố S, phường N, thị xã V; Trần Hữu T lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 vào tài khoản zalo là “Anh Cả” thấy hình ảnh 01 cáp đề từ tài khoản zalo “Mốc” gửi đến tài khoản “Anh Cả” (cáp đề M bán cho người nam thanh niên lúc 08 giờ 30 ngày 17/12/2024 với số tiền 620.000 đồng). T sử dụng zalo “Anh Cả” chuyển hình ảnh cáp đề trên đến tài khoản zalo “Cô chủ mới” của anh D vào lúc 17 giờ 01 phút ngày 17/12/2024. T thấy tin nhắn mua số lô, số đề của tài khoản zalo “Nguyen Quan” gửi đến tài khoản zalo “Anh Cả” của M từ lúc 09 giờ 27 phút ngày 17/12/2024, người này mua lô số 59, 95 mỗi số 15 điểm với giá 23.000 đồng/1 điểm hết số tiền 690.000 đồng; lô số 65, 56, 01, 10, 07, 70, 27, 34, 20 mỗi số 1 điểm với giá 23.000 đồng/1 điểm hết số tiền 207.000 đồng; lô số 43, 14, 72, 19, 91, 69, 96, 03, 30, 66, 11, 47, 74 mỗi số 1 điểm với giá 23.000 đồng/1 điểm hết số tiền 299.000 đồng. Tổng số tiền tài khoản zalo “Nguyen Quan” mua số lô là 1.196.000 đồng. Lúc 17 giờ 24 phút cùng ngày, T sử dụng zalo “Anh Cả” trả lời tin nhắn của “Nguyen Quan” là “Ok” tức là T đồng ý bán số lô, số đề cho tài khoản zalo “Nguyen Quan” thay M. T sử dụng tài khoản zalo “Anh Cả” chuyển những tin nhắn mua số lô, số đề nêu trên của “Nguyên Quan” đến tài khoản zalo “Cô chủ mới” vào lúc 17 giờ 28 phút ngày 17/12/2024. Đến 17 giờ 44 phút ngày 17/12/2024, tài khoản zalo “Nguyễn Q” tiếp tục gửi nhắn tin đến zalo “Anh Cả” hỏi mua lô số 49, 94 mỗi số 07 điểm với giá 23.000 đồng/1 điểm hết 322.000 đồng. T nhắn tin trả lời “Ok” với tài khoản “Nguyễn Quan” rồi T tiếp tục chuyển số lô 49, 94 đến tài khoản zalo “Cô chủ mới” của D vào lúc 17 giờ 45 phút cùng ngày 17/12/2024. Tổng số tiền T giúp M chuyển cáp đề mua bán với tài khoản zalo “Nguyen Quan” đến tài khoản zalo “Cô chủ mới” là 1.518.000 đồng. Khoảng 17 giờ 29 phút ngày 17/12/2024, T thấy tài khoản zalo “Mốc” của M chuyển đến tài khoản zalo “Anh Cả” hình ảnh cáp đề với số lô, số đề mà M đã bán cho người nam thanh niên quê Lạng Sơn tổng số tiền là 1.250.000 đồng. T đã sử dụng tài khoản zalo “Anh cả” chuyển cáp đề này đến tài khoản zalo “Cô chủ mới”.

Quá trình điều tra xác định, bị cáo T khai trong trường hợp nếu mà M không bị bắt quả tang thì M tiếp tục sử dụng tài khoản zalo “Mốc” chuyển cáp đề đã bán cho Hoàng Văn N1 với số tiền là 4.910.000 đồng đến tài khoản zalo “Anh cả” để cho Trung chuyển cáp đề này đến tài khoản zalo “Cô chủ mới” thì T vẫn tiếp tục chuyển cáp đề giúp M.

Như vậy trong ngày 17/12/2024, Thân Thị M, Trần Hữu T đã bán số lô, số đề cho khách là 8.298.000 đồng.

Trong ngày 17/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp quán bán nước của Thân Thị M và nơi ở của Thân Thị M, Trần Hữu T tại tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Kết quả không thu giữ được đồ vật tài liệu liên quan. Trần Hữu T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 có imei: 863178060505690. Kiểm tra chiếc điện thoại này có thông tin chuyển cáp đề giữa các tài khoản zalo “Mốc”, “Anh Cả”, “Cô chủ mới” trong ngày 17/12/2024. Kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím thu giữ của M có sử dụng tài khoản zalo “Mốc”; M khai tài khoản zalo “Cô chủ mới” là của Phạm Văn D- sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày 17/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn D nhưng không thu giữ được đồ vật tài liệu; D không có mặt tại nhà.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định chữ viết trên tài liệu ký hiệu A1, A2. Tại bản kết luận giám định số 2744/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ viết của Thân Thị M trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1 đến M6) là do cùng một người viết ra.

Đối với tài khoản zalo “Cô chủ mới” được đăng ký bằng số điện thoại 03847266xxx. Số điện thoại này có chủ thuê bao là anh Trần Quang T1- sinh năm 1994, địa chỉ xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên không sử dụng số tài khoản này, không biết và không liên quan gì đến việc Thân Thị M đánh bạc, không quen biết Phạm Văn D nên anh T1 không vi phạm pháp luật.

Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Phạm Văn D: D khai không bàn bạc với M về việc mua bán số lô, số đề; Dược sử dụng điện thoại đen trắng đến đầu tháng 12 năm 2024 thì bị rơi mất điện thoại, không nhớ số điện thoại, không có tài khoản zalo, không sử dụng điện thoại, không sử dung zalo “Cô chủ mới”. Do mâu thuẫn lời khai, Cơ quan điều tra đã cho M, T đối chất với D nhưng các bên giữ nguyên lời khai; ngoài lời khai của M ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc D nhận bán số lô, số đề với M ngày 17/12/2024 nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Phạm Văn D.

Đối với hai người nam thanh niên và người sử dụng tài khoản zalo “Nguyen Quan”, “Cô chủ mới”; người nam thanh niên tự khai là Hoàng Văn N1- sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã V đã mua số lô, số đề của M. Quá trình điều tra bị cáo M, T đều khai không biết tên địa chỉ của những người này. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an phường Q nhưng không có người nào có thông tin như đã nêu trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.

Về vật chứng vụ án: Đối với số tiền 6.160.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím; 01 Bút bi mà đen; 01 Bàn nhựa màu đỏ mận; 01 Ghế nhựa màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 đều là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 53/QĐ-VKS ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Thân Thị M, Trần Hữu T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:

  • - Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Thân Thị M từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hữu T số tiền từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ về tội “Đánh bạc".
  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.160.000đ (sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18.
    • Tịch thu tiêu huỷ 01 Bút bi mà đen; 01 Bàn nhựa màu đỏ mận; 01 Ghế nhựa màu xanh.
    • Truy thu của bị cáo Thân Thị M số tiền 2.138.000đ (hai triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng).
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH, buộc bị cáo Thân Thị M và Trần Hữu T mỗi bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận gì, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên về tội danh cũng như hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiên hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo trong hồ sơ phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ thấy đã có đủ cơ sở kết luận: trong ngày 17/12/2024, Thân Thị M, Trần Hữu T đã có hành vi bán số lô, số đề cho khách là 8.298.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo khoản, điều luật như trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương, gây ảnh hưởng không tốt đến gia đình và xã hội.

Xé vai trò của các bị cáo: Bị cáo M là người trực tiếp bán số lô số đề cho khách nên giữ vai trò chính và cao hơn bị cáo T. Bị cáo T giữ vai trò giúp sức cho bị cáo M.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo M và T có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. M là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm nên đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xem xét xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục lao động sản xuất tại địa phương. Đối với T có vai trò giúp sức cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo T.

Về hình phạt bổ sung: Thân Thị M, Trần Hữu T đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề mục đích để thu lời bất chính cần phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 BLHS. Tuy nhiên, M và T là vợ chồng, T là đồng phạm vai trò giúp sức cho bị cáo M nên xét thấy chỉ cần phạt bổ sung bằng tiền đối với M, không phạt bổ sung bằng tiền đối với T.

Về truy thu tiền thu lời bất chính: Tổng số tiền M đánh bạc là 8.298.000 đồng. M đã thu tiền từ người chơi được 6.160.000 đồng, còn số tiền 2.138.000 đồng Minh cho người chơi ghi nợ, nhưng đã chuyển cáp đề cho chủ lô là tiền có mục đích sử dụng vào việc phạm tội nên cần phải truy thu số tiền 2.138.000 đồng này của M.

Về vật chứng vụ án: Số tiền 6.160.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím số imei 868613043188979; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 số imei: 863178060505690; 01(một) bút bi màu đen; 01 (một) bàn nhựa màu đỏ mận; 01 ghế nhựa màu xanh. Toàn bộ tài sản và tiền nêu trên là Thân Thị M và Trần Hữu T là tiền thu lời bất chính và công cụ sử dụng vào việc phạm tội. Đối với 01(một) bút bi màu đen; 01 (một) bàn nhựa màu đỏ mận; 01 ghế nhựa màu xanh là tài sản không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ. Tiền và tài sản còn lại tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Thân Thị M 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung 10.000.000đ (mười triệu đồng).

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hữu T số tiền 40 (bốn mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
  3. Về vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.160.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18.
    • Tịch thu tiêu huỷ 01 Bút bi mà đen; 01 Bàn nhựa màu đỏ mận; 01 Ghế nhựa màu xanh.
  4. Truy thu của bị cáo Thân Thị M số tiền 2.138.000đ (hai triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng).
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH, buộc bị cáo Thân Thị M và Trần Hữu T mỗi bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - CQ CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - UBND xã (phường) bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tô tụng.
  • - Lưu HS, VP.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 38/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thân Thị Minh - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger