Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 38/2025/HS-PT

Ngày 27 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh, bà Nguyễn Thị My My.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Yến – Thẩm tra viên Toà án nhân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2025/TLPT-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Vi Văn L. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1976, tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Con ông: Vi Tá T; con bà: Vi Thị L1 (đều đã chết). Bị cáo có vợ là bà Lê Thị H, sinh năm 1981; Có 02 con: Con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 02/02/2008 có hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 16/01/2009 đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp miễn trách nhiệm hình sự, ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị Bích N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đ.

Người bị hại:

Bà Vũ Thị Q, sinh năm 1957. Trú tại: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị H, sinh năm 1981. Trú tại: Thôn G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 11 năm 2023, Vi Văn L đang ngồi ở cổng chợ A của chợ T1 huyện E thì thấy bà Vũ Thị Q (sinh năm 1957, trú tại thôn B, xã C, huyện E) đang nói chuyện với mọi người xung quanh về chuyện con trai của bà Q bị tai nạn qua đời. Lăng lại gần và hỏi thêm thông tin. Khoảng nửa tháng sau, L sử dụng số điện thoại chính chủ là 0375.247.xxx gọi điện thoại cho bà Q, L nói với bà Q rằng L là công an mật của tỉnh Đắk Lắk và yêu cầu bà Q đưa tiền cho L để L giúp lo công việc, điều tra về cái chết của con trai bà Q. Từ đó, L đã có 06 lần lấy tiền và tài sản của bà quánh để tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 2/2024 (không xác định được ngày cụ thể) L hẹn bà Q ra cổng chợ T1 trung tâm huyện E rồi xe mô tô biển số 47 - P1 175.98 chở bà Q ra khu vực đèn xanh đèn đỏ tại ngã tư thị trấn E và lấy của bà Q số tiền là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) tiền mặt.

Lần thứ hai: Khoảng 10 ngày sau đó, do thiếu tiền nên L lại gọi điện thoại cho bà Q, yêu cầu bà Q đưa thêm tiền cho L để lo công việc Điều tra. Lăng tiếp tục hẹn bà Q và lấy 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền mặt.

Lần thứ ba: Khoảng 5 ngày sau đó, L gọi điện thoại cho bà Q, yêu cầu bà Q đưa thêm tiền cho L để điều tra. Bà Q tin tưởng và tiếp tục đưa 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền mặt cho L.

Lần thứ tư: Khoảng 10 ngày sau đó, L lại gọi điện thoại cho bà Q, yêu cầu bà Q đưa thêm tiền cho L. Lần này, do hết tiền nên bà Q đưa cho L 700.000₫ (bảy trăm nghìn đồng) tiền mặt để Lăng điều tra.

Lần thứ năm: Khoảng 5 ngày sau, L lại gọi điện thoại cho bà Q, yêu cầu bà Q đưa thêm tiền cho L. Lăng hẹn bà Q và bà Q đưa cho L số tiền là khoảng 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền mặt.

Lần thứ sáu: Khoảng 5 ngày sau đó, L đang trên đường đi vào thôn B, xã C để đi bốc vác điều thuê, thì L có gặp bà Q ở trên đường rồi chở bà Q về nhà của bà Q tại thôn B, xã C, huyện E, khi về đến nhà bà Q đưa cho L 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền mặt, L thấy bà Q có cầm theo 01 chiếc điện thoại cảm ứng màu đen, nên L bảo bà Q đưa điện thoại đó cho L để L về lấy thông tin. Sau đó, L cầm điện thoại về, L đi thay màn hình, bẻ khóa điện thoại, và sử dụng.

Sau lần đó, L có thêm một vài lần khác gặp bà Q và yêu cầu bà Q đưa thêm tiền cho L. Nhưng bà Q nói bà Q không còn tiền để đưa cho L. Một thời gian sau, em trai bà Q gọi cho L, hỏi về việc tình hình L lo liệu công việc cho người nhà bà Q, L trả lời là chưa làm được gì. Từ lần đó trở đi, L không liên lạc gì với bà Q nữa, bà Q có gọi cho L nhưng L nói L không có nhà. Những lần tiếp theo, bà Q có gọi điện cho L thì L không nghe máy. L cũng không trả lại tiền, điện thoại cho bà Q. Sau đó vào ngày 18/6/2024 bà Q làm đơn tố cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Vi Văn L.

Kết luận định giá tài sản số 36/KL - HĐĐGTS ngày 18/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện E, chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung có trị giá 1.633.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Kết luận định giá tài sản số 47/KL - HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện E, chiếc xe mô tô (loại xe hai bánh) biển số 47 - P1 175.98, màu đen, nhãn hiệu “BLADE”, có số máy JA36E – 0485092, đăng ký lần đầu ngày 18/10/2017, xe được mua lại từ năm 2023, mua lại xe cũ tại cửa hàng T2, địa chỉ: I H, Thị Trấn E có giá trị 5.667.000 đồng (Năm triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vi Văn L đã khắc phục hậu quả, trả lại số tiền 16.500.000 đồng cho bà Vũ Thị Q. Bà Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Vi Văn L: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47; Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO của bị cáo L dùng làm công cụ phạm tội.

      Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.838.500 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng) đối với bị cáo Vi Văn L. (Là tiền 1/2 giá trị của chiếc xe máy bị cáo dùng vào việc phạm tội). Tiếp tục tạm giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 47P1- 175.98 (Là tài sản chung của vợ chồng L và chị Lê Thị H) để đảm bảo cho việc thi hành án. Sau khi bị cáo L thực hiện xong nghĩa vụ truy thu số tiền 2.838.500 đồng thì bị cáo L được nhận lại xe mô tô biển kiểm soát: 47P1- 175.98.

      Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cho bà Q (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E và Chi cục thi hành án huyện Ea Súp).

    • + Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét.

* Kháng cáo: Ngày 16/12/2024 bị cáo Vi Văn L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo

Tại phiên tòa phúc thẩm Vi Văn L giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đã xét xử bị cáo Vi Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội.

Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt. Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, hiện nay bản thân bị cáo đang mắc bệnh phải điều trị để cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo chữa bệnh cũng như phụ giúp lo kinh tế cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng tháng 11 năm 2023, Vi Văn L đang ngồi ở cổng chợ A của chợ T1 huyện E thì thấy bà Vũ Thị Q (sinh năm 1957, trú tại thôn B, xã C, huyện E) đang nói chuyện với mọi người xung quanh về chuyện con trai của bà Q bị tai nạn qua đời. Lăng lại gần và hỏi thêm thông tin. Khoảng nửa tháng sau, L sử dụng số điện thoại chính chủ là 0375.247.xxx gọi điện thoại cho bà Q, L nói với bà Q rằng L là Công an mật của tỉnh Đắk Lắk và yêu cầu bà Q đưa tiền cho L để L giúp lo công việc, điều tra về cái chết của con trai bà Q. Từ đó, L đã có 06 lần lấy tiền và tài sản của bà Q với tổng số tiền 18.133.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vi Văn L về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp và tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Vi Văn L mà cần giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự – Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt đối với bị cáo.

[1] Tuyên bố bị cáo Vi Văn L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vi Văn L: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO của bị cáo L dùng làm công cụ phạm tội.

    Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.838.500₫ (Hai triệu tám trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng) đối với bị cáo Vi Văn L (là tiền 1/2 giá trị của chiếc xe máy bị cáo dùng vào việc phạm tội). Tiếp tục tạm giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 47P1- 175.98 (Là tài sản chung của vợ chồng L và chị Lê Thị H) để đảm bảo cho việc thi hành án. Sau khi bị cáo L thực hiện xong nghĩa vụ truy thu số tiền 2.838.500₫ thì bị cáo L được nhận lại xe mô tô biển kiểm soát: 47P1- 175.98.

    Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cho bà Q. (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E và Chi cục Thi hành án huyện Ea Súp).

  • + Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét.

[3] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Vi Văn L được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối Cao;
  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (LLTP);
  • - TAND huyện Ea Súp;
  • - VKSND huyện Ea Súp;
  • - Chi cục THADS huyện Ea Súp;
  • - Người tham gia tố tụng;;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 38/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger