|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày 30-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Phương Trang;
- Ông Lê Xuân Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh T, sinh ngày 24/4/1985 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn N và bà Võ Thị L; có vợ tên Nguyễn Thị T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Thanh Đ, sinh ngày 23/8/1986 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn Đ1 và bà Hồng Thị M; có vợ tên Trần Thị V và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Đoàn Minh T2, sinh ngày 25/11/1987 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đoàn Văn H và bà Trần Thị D; vợ tên Hà Thị Mỹ D1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/8/2014 bị Công an thị xã B xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “ Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo đã chấp hành xong và đã xoá tiền sự; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. Trần Thanh T3, sinh ngày 20/6/1987 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Thanh B và bà Phan Thị K; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/10/1984 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn M1 và bà Lưu Thị B1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
6. Đỗ Cao N1, sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: vá vỏ xe; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đỗ Văn P1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T4; có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T5 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 14/5/2016 bị Công an thị xã B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong và được xoá tiền sự; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
7. Nguyễn Ngọc T6, sinh ngày 27/02/1982 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: khu phố L, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị Í; có vợ tên Phan Thị Trúc L1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
8. Lê Tấn T7, sinh ngày 23/9/1988 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre; tạm trú: khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn C1 và bà Lê Thị B2; có vợ tên Phan Thị Ngọc Á và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Đào Phú N2, sinh năm 1980;
- Nguyễn Văn C2, sinh năm 1971;
- Lê Văn B3, sinh năm 1983;
Tất cả người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 22/12/2024, Trần Thanh T liên hệ với Trần Thanh Đ và Đỗ Cao N1 để cáp kèo đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đá gà. Để tổ chức cho hai bên đánh bạc, T chuẩn bị 01 cái cân đồng hồ, băng keo và địa điểm đánh bạc là tại Lô C Nông trường cao su A thuộc ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Bên nào thắng cược phải trả cho T 5% trên số tiền thắng cược.
Trần Thanh Đ mang theo 01 con gà điều xanh nặng 3.6kg và 01 cặp cựa sắt. Đỗ Cao N1 không trực tiếp đến địa điểm đánh bạc mà đưa cho Trần Thanh T3 01 con gà que nặng 3.7kg, đưa cho Lê Tấn T7 02 cặp cựa sắt.
Do cân nặng giữa con gà đá của Đ và N1 chênh lệnh 0,1kg nên T thống nhất tỷ lệ cá cược giữa hai bên như sau: Gà que đá ăn 9 (90%) còn gà điều xanh đá ăn 10 (100%) xổ 5.000.000 đồng.
Nhóm người chọn gà điều xanh thắng và số tiền đặt cược của từng người như sau: Trần Thanh Đ, cược số tiền 1.500.000 đồng; Nguyễn Ngọc T6 cược số tiền 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn P cược số tiền 500.000 đồng; Đoàn Minh T2 cược số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền cá cược bên nhóm Đ là 4.500.000 đồng.
Nhóm người chọn gà que thắng và số tiền đặt cược của từng người như sau: Đỗ Cao N1 cược số tiền 2.000.000 đồng; Trần Thanh T3 cược số tiền 1.000.000 đồng; Lê Tấn T7 cược số tiền 500.000 đồng và Ngô Văn H1 cược số tiền 1.500.000 đồng. Tổng số tiền đặt cược bên nhóm N1 là 5.000.000 đồng.
Sau khi T2 băng cựa cho gà điều xanh, H1 băng cựa cho gà que, T hô 1, 2, 3 thì T2 và H1 thả gà ra cho đá với nhau. Hai con gà đá được khoảng 3 phút, T thông báo con gà điều của nhóm Điền đá thua gà que của nhóm Hiểu nên yêu cầu hai bên bắt gà lên để chung chi tiền thắng, thua. đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bằng biện pháp nghiệp vụ, đội CSHS-KT-MT Công an huyện D phối hợp cùng Công an xã T, huyện D bắt quả tang. Các bị cáo Đ, T6, P, T7 bị bắt tại hiện trường, T2, T, N1, T3 và H1 bỏ chạy. Sau đó T2, T, N1, T3 đến Cơ quan Công an đầu thú. Riêng H1 sau khi phạm tội đã bỏ trốn.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa hai bên là 9.500.000 đồng.
Cơ quan Công an đã thu giữ tại hiện trường 03 con gà đá (01 con gà trống màu Điều xanh, đã băng cựa sắt, cân nặng 3.6kg; 01 con gà trống màu que, đã băng cựa sắt, cân nặng 3.7kg; 01 con gà trống màu trắng (con gà này không xác định là của ai) chưa băng cựa sắt, cân nặng 2.3kg); tiền Việt Nam: 4.970.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 61T6-1641. Thu giữ trên người Nguyễn Ngọc T6 số tiền 500.000 đồng; Trần Thanh Đ số tiền 1.540.000 đồng; Nguyễn Văn P số tiền 2.830.000 đồng; Lê Tấn T7 số tiền 340.000 đồng. Quá trình điều tra, Trần Thanh T giao nộp 01 cân đồng hồ 05kg màu xanh; Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 4G, màu đen, IMEL1: 357332563160825, bên trong có gắn Sim số thuê bao 0983674565, trên Sim có dãy số 8984048000006961163; Đỗ Cao N1 giao nộp số tiền 3.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc T6 giao nộp số tiền 2.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, do chưa bắt được bị can Ngô Văn H1 nên ngày 01/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định số tách vụ án hình sự và Quyết định truy nã đối với bị can.
Cáo trạng số 28/CT-VKSDT ngày 11/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Trần Thanh T, Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Đoàn Minh T2, Đỗ Cao N1, Trần Thanh T3 và Lê Tấn T7 về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Cao N1 từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; phạt bổ sung 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thanh T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; xử phạt Đoàn Minh T2, Trần Thanh T3, mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thanh Đ từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; xử phạt Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T8 và Lê Tấn T9, mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 03 con gà đá (01 con gà trống màu Điều xanh, cân nặng 3.6kg; 01 con gà trống màu que, cân nặng 3.7kg; 01 con gà trống màu trắng, cân nặng 2.3kg), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tiêu hủy theo quy định.
- Đối với 02 cặp cựa sắt bằng kim loại và 01 (một) đoạn băng keo màu trắng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 cân đồng hồ 05kg màu xanh; Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 4G, màu đen, IMEL1: 357332563160825, bên trong có gắn Sim số thuê bao 0983674565, trên Sim có dãy số 8984048000006961163 thu giữ của Trần Thanh T, xác định bị can sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với xe mô tô biển số 61T6-1641, xác định là tài sản hợp pháp của Trần Thanh Đ, Đ không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho Đ.
- Đối với 4.970.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc trong lúc đang đánh bạc là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng vào việc phạm tội gồm: 1.500.000 đồng của Trần Thanh Đ; 500.000 đồng của Nguyễn Văn P; 2.000.000 đồng của Nguyễn Ngọc T6; 3.000.000 đồng của Đỗ Cao N1 (trong đó 2.000.000 đồng của N1, 500.000 đồng của H1, 500.000 đồng của T9).
- Buộc Trần Thanh T3 giao nộp 1.000.000 đồng; Đoàn Minh T2 giao nộp số tiền 500.000 đồng sung ngân sách Nhà Nước.
- Trả lại cho Trần Thanh Đ 40.000 đồng; Nguyễn Ngọc T6 500.000 đồng; Nguyễn Văn P 2.330.000 đồng; Lê Tấn T7 340.000 đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận:
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố đối với các bị cáo. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 22/12/2024, tại Lô C Nông trường cao su A thuộc ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, Trần Thanh T đã đứng ra tổ chức cho nhóm Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Đoàn Minh T2 và nhóm Đỗ Cao N1, Trần Thanh T3, Lê Tấn T7 và Ngô Văn H1 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đá gà. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 9.500.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Trần Thanh Tn Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Đoàn Minh T2, Đỗ Cao N1, Trần Thanh T3 và Lê Tấn T7 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 28/CT-VKSDT ngày 11 tháng 4 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, nhận thức rõ hành vi đánh bạc dưới hình thức thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
[4] Trong vụ án có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn không có phân công vai trò cụ thể nên không coi là đồng phạm có tổ chức.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trần Thanh T, Đoàn Minh T2, Đỗ Cao N1 và Trần Thanh T3 đầu thú và bị cáo Đỗ Cao N1 có mẹ là bà bà Nguyễn Thị T4 có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ được chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhất nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Các bị cáo Trần Thanh T, Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Trần Thanh T3 và Lê Tấn T7 là người lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo Đoàn Minh T2 và Đỗ Cao N1 đã từng bị xử phạt hành chính.
[8] Về hình phạt: Xét các bị cáo Trần Thanh T, Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Trần Thanh T3 và Lê Tấn T7 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phạm tội ít nghiêm trọng nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục. Đối với bị cáo Đoàn Minh T2 và Đỗ Cao N1, tuy có nhân thân đã từ bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã xoá, từ khi chấp hành xong đến khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật Nhà nước và địa phương, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương nên áp dụng hình phạt tù có điều kiện cũng đủ sức răn đe giáo dục. Ý kiến đề nghị hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với Trần Thanh T, Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Trần Thanh T3, Lê Tấn T7 phạt tiền và Đỗ Cao N1 là phù hợp, có căn cứ chấp nhận, tuy nhiên mức phạt tiền Trần Thanh T và Nguyễn Ngọc T6 như đề nghị là nhẹ. Đối với bị cáo Đoàn Minh T2 là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
[9] Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Cao N1 15.000.000 đồng tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[11] Đối với Ngô Văn H1 đã bỏ trốn, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh T, Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Trần Thanh T3, Lê Tấn T7, Đoàn Minh T2 và Đỗ Cao N1 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
2.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 40.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Trần Thanh T3 20.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Trần Thanh Đ 30.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T6 30.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 20.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Lê Tấn T7 25.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
2.3 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2025).
Huỷ bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đối với bị cáo Đoàn Minh T2.
Giao bị cáo Đoàn Minh T2 về cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo Đoàn Minh T2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2.4 Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Đỗ Cao N1 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2025).
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Cao N1 15.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đối với bị cáo Đỗ Cao N1.
Giao bị cáo Đỗ Cao N1 về cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo Đỗ Cao N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cặp cựa sắt bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn băng keo màu trắng, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Thanh Đ 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Wave, số loại: Không rõ, màu sơn: Đỏ, loại xe: Nữ, biển số 61T6 1641, dung tích xi lanh: 97cm³, số máy: 0493707, số khung: Y493605 (tình trạng vật chứng tại thời điểm giao nhận: Xe đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu bên phải, không có yếm chắn gió).
- - Buộc Trần Thanh T3 nộp lại 1.000.000 đồng và Đoàn Minh T2 nộp lại 500.000 đồng sung ngân sách Nhà Nước.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 4.970.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 1.500.000 đồng của Trần Thanh Đ; 500.000 đồng của Nguyễn Văn P; 2.000.000 đồng của Nguyễn Ngọc T6; 3.000.000 đồng của Đỗ Cao N1; 01 (một) Cân đồng hồ loại 05kg màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 4G, màu đen, IMEL1: 357332563160825, bên trong có gắn sim số thuê bao 0983674565, trên sim có dãy số 8984048000006961163 được đựng trong bì thư niêm phong dán kín có chữ ký của Nguyễn Trung H2, Hồ Phạm Như Q và hình dấu đỏ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng;
- - Trả lại cho các bị cáo Trần Thanh Đ 40.000 đồng; Nguyễn Ngọc T6 500.000 đồng; Nguyễn Văn P 2.330.000 đồng và Lê Tấn T7 340.000 đồng.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2025 giữa Công an huyện D, tỉnh Bình Dương và Chi cục Thi hành án huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; Biên lai thu tiền số 0001992 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Thanh T, Trần Thanh Đ, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn P, Trần Thanh T3, Lê Tấn T7, Đoàn Minh T2 và Đỗ Cao N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Nơi nhận:
|
Lê Quân Vương |
Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 38/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
