Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày 27-11-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Nam

Ông Nguyễn Quốc Sửu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979 tại xã N, tỉnh Bắc Ninh; nơi thường trú: Thôn G, xã N, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: Thôn Đ, xã N, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị L; có vợ Ninh Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:

  • - Tại Bản án số 123/2019/HS-ST ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn S 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2019 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2021, chấp hành xong án phí ngày 19/12/2019).
  • - Tại Bản án số 25/2022/HS-ST ngày 30/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn S 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2021 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2022, chấp hành xong án phí ngày 22/7/2022, đã bồi thường dân sự xong ngày 12/3/2024).

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn L, xã N, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn L, xã N, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, tại nhà ở của anh Nguyễn Văn M- sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Tổ công tác Công an xã N kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn S- sinh năm 1979, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn G, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở thôn Đ, xã N, tỉnh Bắc Ninh có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

Thu giữ trên ghế ngồi uống nước tại sân nhà Nguyễn Văn M (phía sau lưng vị trí S đang ngồi): 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong đựng 07 (bẩy) viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 01 (một) gói ni lông màu xanh bên trong đựng 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.

Thu giữ của Nguyễn Văn S: 01 (một) điện thoại di động XS màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 356173094071029, IMEI2: 356173094396145, lắp sim điện thoại số: 0386.430.xxx; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển kiểm soát 98K8-3883, màu đỏ đen, xe cũ đã qua sử dụng.

Sau khi bắt quả tang, Công an xã N đã phối hợp với Trạm y tế xã Ngọc Thiện xét nghiệm chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn S, kết quả Sinh dương tính với ma túy tổng hợp.

Cùng ngày 05/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở tại thôn Đ, xã N của S nhưng không thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn S khai nhận như sau: Sinh là người nghiện ma túy nhưng chưa tham gia hình thức cai nghiện ma túy nào. Khoảng 08 giờ ngày 05/8/2025, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 98K8- 3383 đến khu vực xã Q, tỉnh Bắc Ninh mục đích để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực gần chợ L2, xã Q, S gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với số tiền 700.000 đồng được 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong đựng 07 (bẩy) viên nén hình tròn màu hồng đỏ và 01 (một) gói ni lông màu xanh bên trong đựng 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng đỏ. Sinh cầm 02 gói ma túy mua được đút vào túi quần phía trước bên phải, rồi điều khiển xe đi về nhà anh Nguyễn Văn M chơi. Khoảng hơn 10 giờ cùng ngày 05/8/2025, khi S và anh M đang ngồi chơi, uống nước tại sân nhà anh M thì bị Tổ công tác của Công an xã N kiểm tra. Do sợ hãi nên S lấy 02 gói ma túy đang cất giấu ở túi quần trước bên phải vứt ra ghế phía sau lưng vị trí S đang ngồi. Sau đó, Tổ công tác đã thu giữ vật chứng liên quan và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, S khai nhận tối ngày 04/8/2025, S mua 100.000 đồng ma túy tổng hợp của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ L2, xã Q và đã sử dụng hết số ma túy này tại chỗ ở của S.

Ngày 05/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định số 11333 yêu cầu giám định mẫu vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT” gửi giám định có phải là chất ma túy không? Loại ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 1713/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu "QT" được niêm phong gửi giám định:

  • - 07 (bảy) viên nén hình tròn màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) gói ni lông màu trắng đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,710 gam.
  • - 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) gói ni lông màu xanh đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,404 gam".

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của S. Kết quả không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 98K8-3883 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1971, trú tại thôn L, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Ông B cho S mượn làm phương tiện đi lại nhưng ông B không biết việc S sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy nên ông B không vi phạm pháp luật. Ngày 28/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông B.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 11/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau khi kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng đến 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/8/2025.

Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về vật chứng và tiền án phí.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; L1 khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, tại nhà ở của anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Tổ công tác Công an xã N, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Nguyễn Văn S, sinh năm 1979, nơi thường trú thôn G, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở thôn Đ, xã N, tỉnh Bắc Ninh có hành vi tàng trữ trái phép 1,114 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; đã xâm phạm đến khách thể là sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ.

Do vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn S là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Hình phạt và mức hình phạt như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp so với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn S: Quá trình điều tra xác định hành vi của S không thuộc các trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a Bộ luật Hình sự, nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Việc Trưởng Công an xã N xử phạt vi phạm hành chính đối với S là phù hợp, Toà án không xem xét trong vụ án này.

[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho S do S không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Đối với ông Nguyễn Văn M không biết việc Nguyễn Văn S “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không tham gia mua ma túy cùng Nguyễn Văn S nên anh M không vi phạm pháp luật. Đối với ông Nguyễn Thế B là người cho S mượn làm phương tiện đi lại nhưng ông B không biết việc S sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy nên ông B không vi phạm pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Bắc Ninh là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 356173094071029, IMEI2: 356173094396145, lắp sim điện thoại số: 0386.430.xxx là của Sinh, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các điều135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2025.
  2. Về việc xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu “QT”, bên trong có: Mẫu viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) gói ni lông màu trắng đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,508 gam; Mẫu viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) gói ni lông màu xanh đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,281 gam.
    • - Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI1: 356173094071029, IMEI2: 356173094396145, lắp sim điện thoại số: 0386.430.xxx.
    • (Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Bắc Ninh)
  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 3 - Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT, CQTHAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam số 2 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Mai Hương

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sinh - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger