|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày: 26/11/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Sáu và ông Nguyễn Đắc Quýnh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị La và bà Nguyễn Thị K – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 18/11/2025 đối với các bị cáo:
1. Phan Ngọc A, sinh ngày 09/01/1972; Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không; Số căn cước công dân [...] ; Nơi ĐKHKTT: SỐ A A, phường H, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số B T, phường T, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phan Quang N và bà Nguyễn Thị V; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Thị L (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 14/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 của TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Phan Ngọc A 45 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Phan Ngọc A chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 09/11/2021, nộp án phí hình sự ngày 02/4/2019. (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2025 đến ngày 15/6/2025 chuyển Tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa
2. Nguyễn Văn T; sinh ngày 13/11/1987; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Số C; Nơi ĐKHKTT/ Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn T1 và con bà Nguyễn Thị T2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Vũ Thị H; Có hai con: con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 195/2018/HSST ngày 03/10/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương xử phạt T 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Trưởng chấp hành xong ngày 24/9/2020, nộp án phí hình sự ngày 24/10/2018, hiện đã được xóa án tích
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2025 đến ngày 15/6/2025 chuyển Tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Văn T3; sinh ngày 27/6/1998; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Số Căn cước công dân [...]; Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phạm Đức T4 và bà Phạm Thị H1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 2002; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/10/2014 bị công an huyện N xử phạt 300.000 đồng về hành vi đánh nhau (nộp phạt ngày 12/11/2014);
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2025 đến ngày 15/6/2025 chuyển Tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng:
- + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962. Có mặt
- + Anh Lê Văn K1, sinh năm 2000
- + Anh Trịnh Đình H2, sinh năm 1999
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 30/5/2025, Phan Ngọc A đi từ phòng trọ của mình tại số B T, phường T, thành phố Hải Phòng đến khu vực đường tàu thuộc phường L, thành phố Hải Phòng tìm mua được 20 viên ma túy loại kẹo dạng viên nén màu xám và 01 túi nilon chứa 10 gam ma túy đá hết 8.600.000 đồng của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ. Mua được ma túy, Ngọc A mang vào phòng trọ của mình chia thành nhiều gói nhỏ, mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 31/5/2025, khi Ngọc A đang ở phòng trọ thì Nguyễn Văn T gọi điện đến số điện thoại 0942.821.xxx của Ngọc A hỏi mua 05 gam ma túy tổng hợp dạng đá với số tiền 5.000.000 đồng. Ngọc A đồng ý và hẹn sẽ giao ma túy tại khu đô thị T, phường T, thành phố Hải Phòng. Ngọc A lấy 01 túi ma túy đá có khối lượng 05 gam cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu xanh rồi đi ra khu vực cổng chào khu đô thị T gặp T. Tại đây, T đưa cho Ngọc A số tiền 5.000.000 đồng, T lấy gói ma tuý đá trên vỉa hè theo sự chỉ dẫn của Ngọc A rồi cất giấu trong người đi về nhà. Khoảng 9 giờ 40 phút ngày 09/6/2025, T tiếp tục gọi điện thoại cho Ngọc A hỏi mua 05 gam ma túy. Ngọc A hẹn T đến khu vực cổng khu đô thị T. Ngọc A lấy 01 túi ma túy đá có khối lượng 05 gam cho vào 01 phong bì. Khi ra khu vực cổng chào khu đô thị T, Ngọc A để phong bì ở vìa hè. Gặp Ngọc A, T đưa trước cho Ngọc A số tiền 1.600.000 đồng, còn nợ lại 3.400.000 đồng. Ngọc A đồng ý rồi chỉ cho T nơi cất giấu ma tuý. T lấy được ma tuý rồi mang về nhà cất giấu. Ngày 09/6/2025; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, phát hiện bắt quả tang T có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý tại nhà mình ở thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng nên Ngọc A đến cơ quan Công an đầu thú vào 20 giờ 00 phút cùng ngày và tự nguyện giao nộp 02 túi nilon bên trong chứa tổng số 20 viên nén màu xám là ma túy loại kẹo (mẫu niêm phong ký hiệu N1). Ngọc A khai nhận mục đích cất giấu ma tuý để bán kiếm lời.
Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma tuý với Phan Ngọc A như trên, tối ngày 30/5/2025 T đến khu vực đường tàu thuộc thành phố H (cũ) mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 07 viên ma túy loại hồng và một ít bột màu xanh đều là ma túy tổng hợp với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy từ Ngọc A và người đàn ông trên, T dùng cân tiểu ly chia ma túy thành nhiều túi nhỏ, mục đích có ai hỏi mua thì bán và sử dụng cho bản thân. Khoảng 19 giờ ngày 07/6/2025, Phạm Văn T3, sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng gọi điện cho T hỏi mua 01 túi ma túy dạng đá với số tiền 450.000 đồng, T đồng ý. T3 đã chuyển khoản tiền mua ma tuý đến số tài khoản 876166888 của T mở tại ngân hàng T6. T để gói ma tuý bán cho T3 ở trụ cổng nhà T và bảo T3 tự lấy. Đến 16 giờ 00 phút ngày 09/6/2025 T đang cất giấu ma túy tại nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 túi nilon có kích thước khoảng 08x12cm bên trong chứa 14 túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; 02 túi nilon đều có kích thước khoảng 8,0x5,0cm, nẹp cài viền màu đỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng đều ký hiệu M1; 01 túi nilon đều có kích thước khoảng 5,0x8,5cm nẹp cài viền màu đỏ bên trong chứa 05 viên nén màu đỏ hình tròn đều có đường kính khoảng 0,5cm; 01 túi nilon có kích thước khoảng 4,0x6,0cm nẹp cài viền màu cam bên trong chứa 02 viên nén màu đỏ hình tròn đều có đường kính khoảng 0,5cm; 01 túi nilon đều có kích thước khoảng 5,0x8,5cm nẹp cài viền màu đỏ bên trong chứa chất bột màu xanh (mẫu niêm phong ký hiệu M2); nhiều vỏ túi kích thước khác nhau, 01 cân điện tử; 02 túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh bên trong đều bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 chai thủy tinh hình trụ có đường kính đáy khoảng 6,0 cm, cao khoảng 14 cm trên nắp chai có 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu hồng- màu tím, 01 lỗ gắn với cóong thủy tinh, 01 đầu hình cầu đường kính khoảng 1,5cm, bên trên có 01 lỗ tròn có đường kính khoảng 0,5cm bên trong có chất muội màu trắng và chất muội màu đen bám dính; 01 cóong thủy tinh dài khoảng 16cm, đường kính khoảng 0,5 cm, 01 đầu hình cầu có đường kính khoảng 1,5cm, bên trên có 01 lỗ tròn đường kính 0,5cm bên trong có chất muội màu trắng và chất muội màu đen bám dính (mẫu niêm phong ký hiệu M3); 01 cuộn băng dính màu đen; 01 bật lửa ga màu cam; 01 điện thoại di động iphone 7 màu đen, lắp sim số 0826.490.450
Khoảng 11 giờ ngày 09/6/2025, tại khu vực nghĩa trang xã T, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H phát hiện và thu giữ bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Văn K1, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã N, thành phố Hải Phòng. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra tìm chất ma tuý trong nước tiểu của K1, kết quả Kiểm dương tính với ma tuý, loại Mathemphetamine. Lê Văn K1 khai nhận nguồn gốc số ma tuý K1 sử dụng là mua của Phạm Văn T3, sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng. Đến 15 giờ 00 ngày 09/6/2025, T3 đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình như sau: Tối ngày 07/6/2025, K1 sử dụng tài khoản Zalo "LK" gọi điện đến Zalo "Tùng M" của Phạm Văn T3 để hỏi mua 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá với số tiền 500.000 đồng. T3 đồng ý. Kiểm dùng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M1 của K1 chuyển số tiền 500.000 đồng đến số tài khoản 11958686888 mở tại Ngân hàng T7 của T3. Sau khi nhận được tiền, T3 liên hệ và mua ma tuý của T với giá 450.000 đồng để bán lại cho K1. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T3 đến nhà T và lấy gói ma tuý đã hẹn mua trước đó được T để sẵn ở trụ cổng nhà T rồi đi về. Về đến nhà, T3 để túi nilon chứa ma túy vào bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, K1 đi cùng anh Trịnh Đình H2 sinh năm 1999 nơi cư trú thôn L xã N thành phố Hải Phòng (anh H2 không biết việc K1 đi mua ma tuý để sử dụng) đến khu vực cửa sổ nhà T3 thì K1 gọi điện qua Z thông báo với T3. T3 ném một vỏ thuốc lá Vinataba bên trong chứa 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá qua cửa sổ để bán cho K1. Kiểm nhặt lấy rồi cất ma túy vào trong người rồi đi về. Đến ngày 09/6/2025, anh K1 mang gói ma tuý mua được của T3 đến khu vực nghĩa trang xã T, thành phố Hải Phòng sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu xanh được đục 02 lỗ tròn (01 lỗ gắn cóong thủy tinh bên trong cóong thủy tinh có bám dính chất nguội màu vàng, 01 lỗ được gắn ống hút màu cam); 01 bật lửa màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng có khóa zip màu đỏ kích thước khoảng (1,5x2)cm bên trong có bám dính tinh thể màu trắng (mẫu niêm phong ký hiệu T1).
Tại bản kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 12/6/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất màu vàng bám dính bên trong bầu cóong thủy tinh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký kiệu T1 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng
Tại bản kết luận giám định số 368/KL-KTHS, ngày 12/6/2025 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận:
- + Mẫu chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 14 (Mười bốn) túi nilon bên trong túi nilon (Kích thước 08 x 12 cm) và trong 02 (Hai) túi nilon (Kích thước 08 x 05 cm) viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, gửi đến giám định là ma túy; loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu là: 6,915g (Sáu phẩy chín trăm mười lăm gam).
- + Mẫu các viên nén màu đỏ trong túi nilon (Kích thước 05 x 8,5 cm) viền khóa màu đỏ và trong túi nilon (Kích thước 04 x 06 cm) viền khóa màu cam, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, gửi đến giám định là ma túy; loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu là: 0,663g (Không phẩy sáu trăm sáu mươi ba gam).
- + Mẫu chất bột màu xanh trong túi nilon (Kích thước 05 x 8,5 cm) viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, gửi đến giám định là ma túy; loại: Methamphetamine. Khối lượng mẫu là: 0,012g (Không phẩy không trăm mười hai gam).
- + Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 02 (Hai) túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định, là ma túy; loại: Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính đều rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong ống hút màu cam, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định, là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất màu trắng lẫn màu đen bám dính bên trong 02 (Hai) bầu coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3 gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính đều rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Mẫu các viên nén màu xám trong túi nilon (Kích thước 09 x 10 cm) viền khóa màu đỏ và trong túi nilon (Kích thước 2,5 × 03 cm) viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu N1, gửi đến giám định là ma túy; loại: MDMA, Ketamine. Tổng khối lượng mẫu là: 6,931g (Sáu phẩy chín trăm ba mươi mốt gam).
Tại bản kết luận giám định số 6263/KL- KTHS ngày 25/8/2025 của V1 Bộ C kết luận về đối tượng giám định: Hàm lượng ma túy MDMA và Ketamine có trong 6,673 gam mẫu vật ký hiệu T4 gửi giám định lần lượt là 32,53% và 2,08%.
Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2 Công an tỉnh H, mẫu hoàn lại sau giám định số 369/KL- KTHS bên trong có 01 cóong thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu T1; 01 hộp giấy được niêm phong bằng giấy niêm phong đóng dấu Công an xã T, bên trong chứa bộ dụng cụ sử dụng ma túy ký hiệu T2; 01 phong bì thư dán kín, được đóng dấu phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H bên trong có 01 điện thoại Samsung 21 Plus gắn sim số 0352.800.723 của Phạm Văn T3; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T1, bên trong chứa 6,550 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 17 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T2, bên trong chứa 0,590 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu cam, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2; 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T3, bên trong 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh; 01 ống hút màu cam; 02 cóong thủy tinh, 01 vỏ phong bì ký hiệu M3; 01 hộp giấy dán kín các mép được dán giấy niêm phong và đóng dấu Công an xã T thu giữ nhà Nguyễn Văn T ký hiệu M4; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, công an tỉnh H bên trong có 01 điện thoại Iphone XS gắn sim số 0942.821.xxx của Phan Ngọc A; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, công an tỉnh H, bên trong có 01 điện thoại Iphone 7 plus gắn sim số 0826.490.450 của Nguyễn Văn T; 01 phong bì mặt trước có chữ BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ bên trong chứa 6,600 gam mẫu viên nén màu xám và chất bột màu xám, vỏ bao gói; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bật lửa ga màu cam; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 cân điện tử có kích thước 2,0x5,0x9,0 cm; Nhiều vỏ túi nilon có kích thước khác nhau có nẹp cài viền màu xanh, nẹp cài viền màu cam. Toàn bộ vật chứng trên được lưu giữ tại kho vật chứng chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-KV9 ngày 23/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng truy tố bị cáo Phan Ngọc A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Phạm Văn T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc A, Nguyễn Văn T và Phạm Văn T3 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Về hình phạt: căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc A từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 6 tháng tù thời hạn tù tính từ tạm giữ ngày 09/6/2025. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 7 năm đến 7 năm 3 tháng tù thời hạn tù tính từ tạm giữ ngày 09/6/2025. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T3 từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tháng tù thời hạn tù tính từ tạm giữ ngày 09/6/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2 Công an tỉnh H, mẫu hoàn lại sau giám định số 369/KL- KTHS bên trong có 01 cóong thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu T1; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 21 cm, đường kính đáy 6 cm, nắp chai màu xanh được đục 02 lỗ tròn đường kính 0,5cm; 01 ống hút màu cam dài 19 cm; 01 bật lửa màu đỏ không nhãn hiệu; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T1, bên trong chứa 6,550 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 17 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T2, bên trong chứa 0,590 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu cam, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T3, bên trong 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh; 01 ống hút màu cam; 02 cóong thủy tinh, 01 vỏ phong bì ký hiệu M3; 01 phong bì mặt trước có chữ BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ bên trong chứa 6,600 gam mẫu viên nén màu xám và chất bột màu xám, vỏ bao gói; 30 vỏ túi nilon có kích thước khác nhau có nẹp cài viền màu xanh, nẹp cài viền màu cam; 01 bật lửa ga màu cam; 01 cân điện tử in dòng chữ M2 có kích thước 2,0x5,0x9,0 cm; 01 chai thủy tinh hình trụ có đường kính đáy khoảng 6,0cm, cao khoảng 14cm, trên nắp chai có 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu hồng và tím dài khoảng 26 cm, có đường kính khoảng 0,5cm; 01 cuộn băng dính màu đen.
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số IME 0357226098311400 gắn sim số Vina có số seri sim là 89840200011631488945 của Phan Ngọc A; 01 điện thoại Samsung 21 Plus màu tím có số IME 353561333493041 gắn sim số Viettel có số seri sim là 8984048000945408885 của Phạm Văn T3; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen số máy NNQR2LL/A, số Seri FYMVC0YVHG04 gắn sim số Vinaphone số Seri 89840200011669809665 của Nguyễn Văn T (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Hải Phòng); Buộc bị cáo Phan Ngọc A phải nộp số tiền 6.600.000đ; bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp số tiền 450.000₫ và bị cáo Phạm Văn T3 phải nộp số tiền 500.000đ để sung vào quỹ Nhà nước. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, VKSND khu vực 9 - Hải Phòng Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 31/5/2025 và khoảng 9 giờ 40 phút ngày 09/6/2025, tại khu vực cổng chào khu đô thị T phường T thành phố Hải Phòng, Phan Ngọc A bán trái phép 02 lần, mỗi lần 05 gam ma tuý, loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn T với giá 5.000.000 đồng/lần. Ngoài ra, Ngọc A còn có hành vi cất giấu trái phép 20 viên nén màu xám là ma túy loại MDMA và Ketamine với tổng khối lượng 6,931 gam, tinh chất ma túy MDMA và Ketamine là 2,399 gam, mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 07/6/2025 tại nhà ở của Nguyễn Văn T ở thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn T có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Phạm Văn T3 với số tiền 450.000 đồng. Ngoài ra, T còn có hành vi cất giấu trái phép tại nhà mình 7,59 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 20 giờ ngày 07/6/2025, tại nhà của Phạm Văn T3 ở thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng. T3 có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Lê Văn K1 với số tiền 500.000 đồng.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng do mục đích muốn kiếm lời nên các bị cáo vẫn cố ý cất giấu ma túy để bán ma túy cho các đối tượng có nhu cầu.
Vì vậy, bị cáo Phan Ngọc A với hành vi 02 lần bán ma túy cho T gồm 10 gam ma túy loại Methamphetamine mỗi lần 05 gam; và hành vi cất giấu phép 20 viên nén màu xám là ma túy loại MDMA và Ketamine với tổng khối lượng 6,931 gam, tinh chất ma túy MDMA và Ketamine là 2,399 gam, mục đích để bán kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T với hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Phạm Văn T3 và hành vi cất giấu trái phép tại nhà mình 7,59 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Phạm Văn T3 với hành vi bán trái phép bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Lê Văn K1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi cất giấu trái phép ma túy mục đích để bán kiếm lời đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy khi sử dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người cũng như toàn xã hội và việc sử dụng ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh thế kỷ HIV – AIDS. Mặt khác, bị cáo Phan Ngọc A đã từng bị xét xử về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Văn T đã bị xét xử về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuy; bị cáo Phạm Văn T3 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại cố ý thực hiện tội phạm, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Phan Ngọc A và Phạm Văn T3 khi hành vi bị phát hiện các bị cáo đã ra cơ quan công an đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ người phạm tội đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp và vật chứng:
Đối với 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2 Công an tỉnh H, mẫu hoàn lại sau giám định số 369/KL- KTHS bên trong có 01 cóong thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu T1; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 21 cm, đường kính đáy 6 cm, nắp chai màu xanh được đục 02 lỗ tròn đường kính 0,5cm; 01 ống hút màu cam dài 19 cm; 01 bật lửa màu đỏ không nhãn hiệu; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T1, bên trong chứa 6,550 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 17 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T2, bên trong chứa 0,590 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu cam, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T3, bên trong 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh; 01 ống hút màu cam; 02 cóong thủy tinh, 01 vỏ phong bì ký hiệu M3; 01 phong bì mặt trước có chữ BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ bên trong chứa 6,600 gam mẫu viên nén màu xám và chất bột màu xám, vỏ bao gói; 30 vỏ túi nilon có kích thước khác nhau có nẹp cài viền màu xanh, nẹp cài viền màu cam; 01 bật lửa ga màu cam; 01 cân điện tử in dòng chữ M2 có kích thước 2,0x5,0x9,0 cm; 01 chai thủy tinh hình trụ có đường kính đáy khoảng 6,0cm, cao khoảng 14cm, trên nắp chai có 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu hồng và tím dài khoảng 26 cm, có đường kính khoảng 0,5cm; 01 cuộn băng dính màu đen là vật cấm lưu hành, công cụ sử dụng vào việc phạm tôi và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số IME 0357226098311400 gắn sim số Vina có số seri sim là 89840200011631488945 của Phan Ngọc A; 01 điện thoại Samsung 21 Plus màu tím có số IME 353561333493041 gắn sim số Viettel có số seri sim là 8984048000945408885 của Phạm Văn T3; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen số máy NNQR2LL/A, số Seri FYMVC0YVHG04 gắn sim số Vinaphone số Seri 89840200011669809665 của Nguyễn Văn T là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 6.600.000₫ mà bị cáo Phan Ngọc A bán ma túy cho T; số tiền 450.000₫ mà bị cáo T bán ma túy cho T3 và số tiền 500.000₫ mà bị cáo T3 bán ma túy cho K1 là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên cần buộc các bị cáo phải nộp để sung vào quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn K1. Ngày 03/10/2025, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K1 là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của Nguyễn Văn T, Phạm Văn T3. Ngày 03/10/2025, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 phù hợp.
Đối với Trịnh Đình H2 đi cùng K1 nhưng không biết việc mua bán ma túy của K1 và T3 nên cơ quan điều tra không xử lý đối với H2 là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn T vào tối ngày 30/5/2025 và người đàn ông bán ma túy cho Phan Ngọc A vào ngày 30/5/2025, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phan Ngọc A; Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T; Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Văn T3; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Phan Ngọc A, Nguyễn Văn T, Phạm Văn T3 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phan Ngọc A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ ngày 09/6/2025
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 01(một) tháng tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ ngày 09/6/2025
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T3 03 (ba) năm tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ ngày 09/6/2025
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2 Công an tỉnh H, mẫu hoàn lại sau giám định số 369/KL- KTHS bên trong có 01 cóong thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu T1; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 21 cm, đường kính đáy 6 cm, nắp chai màu xanh được đục 02 lỗ tròn đường kính 0,5cm; 01 ống hút màu cam dài 19 cm; 01 bật lửa màu đỏ không nhãn hiệu; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T1, bên trong chứa 6,550 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 17 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T2, bên trong chứa 0,590 gam ma túy loại Methamphetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu cam, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2; 01 phong bì thư dán kín, đóng dấu phòng K2, mẫu hoàn lại sau giám định số 368/KL- KTHS, ký hiệu T3, bên trong 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh; 01 ống hút màu cam; 02 cóong thủy tinh, 01 vỏ phong bì ký hiệu M3; 01 phong bì mặt trước có chữ BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ bên trong chứa 6,600 gam mẫu viên nén màu xám và chất bột màu xám, vỏ bao gói; 30 vỏ túi nilon có kích thước khác nhau có nẹp cài viền màu xanh, nẹp cài viền màu cam; 01 bật lửa ga màu cam; 01 cân điện tử in dòng chữ M2 có kích thước 2,0x5,0x9,0 cm; 01 chai thủy tinh hình trụ có đường kính đáy khoảng 6,0cm, cao khoảng 14cm, trên nắp chai có 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu hồng và tím dài khoảng 26 cm, có đường kính khoảng 0,5cm; 01 cuộn băng dính màu đen.
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số IME 0357226098311400 gắn sim số Vina có số seri sim là 89840200011631488945 của Phan Ngọc A; 01 điện thoại Samsung 21 Plus màu tím có số IME 353561333493041 gắn sim số Viettel có số seri sim là 8984048000945408885 của Phạm Văn T3; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen số máy NNQR2LL/A, số Seri FYMVC0YVHG04 gắn sim số Vinaphone số Seri 89840200011669809665 của Nguyễn Văn T (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Hải Phòng);
Buộc bị cáo Phan Ngọc A phải nộp số tiền 6.600.000đ; bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp số tiền 450.000₫ và bị cáo Phạm Văn T3 phải nộp số tiền 500.000đ để sung vào quỹ Nhà nước.
- Về án phí:
Buộc các bị cáo Phan Ngọc A, Nguyễn Văn T, Phạm Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Điệp |
Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Ngọc A cùng đp MB TPCMT
