Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Võ Văn Thành – Cán bộ hưu trí.
  • Ông Nguyễn Thế Nam – Cán bộ hưu trí.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 08/TB-TA ngày 11 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Quang T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ C, khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Bùi Quang S, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; gia đình có 03 anh em (bị cáo là con út) và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/5/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Ngày 06/7/2024, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ). Bị cáo có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1997. (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Thôn I, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số D L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2. Chị Đoàn Thị Hồng N, sinh năm 1997. (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1977. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quang T và chị Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1997; ngụ tại thôn I, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước có mối quan hệ tình cảm với nhau và có hứa hẹn bàn tính chuyện kết hôn.

Trong quá trình quen biết với chị H, T giới thiệu mình là Công an với cấp hàm Đại úy, hiện đang làm Đội phó đội tham mưu của Đội chống tệ nạn Công an tỉnh Đ và là con nuôi của ông Vũ Hồng V Giám đốc Công an tỉnh Đ, T nhiều lần mượn tiền của chị H (khoảng từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng) và trả đúng hẹn để tạo lòng tin. Ngoài ra, T nói với chị H vì tính chất công việc nên không dùng tài khoản ngân hàng được nên nhờ chị H mở 01 tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) có số tài khoản 0001631583363 và giao cho T sử dụng.

Đến khoảng tháng 04/2022, T nói với chị H đang cần tiền đưa cho lính của T giải quyết công việc cơ quan vì đã khuya chưa về cơ quan xử lý được, chị H tin tưởng lời nói của T là sự thật nên đã đồng ý chuyên vào số tài khoản 001631583363 cho T số tiền 54.000.000 đồng. T hứa sẽ trả trước tháng 05/2022. Đến hẹn chưa thấy T trả tiền, chị H có hỏi thị T nói "đồng chí Vũ Hồng V1 - Giám đốc Công an tỉnh Đ (T gọi bằng ba) đang đi Hà Nội nên chưa ký duyệt được số tiền đó và gia đình kế toán có việc nên vẫn chưa lấy tiền được".

Đến khoảng tháng 08/2022, T nói phải giải quyết một vụ mua bán ma túy ở thành phố L và đang cần tiền giải quyết vụ án trên, nên T nói chị H mang chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda SH mode (màu trắng), biển kiểm soát 93P2-827.93 do chị H đứng tên và đi cầm để lấy tiền giải quyết công việc, T nói với chị H khi nào ông Vũ Hồng V1 đi công tác về ký giấy chuyển tiền thì T sẽ trả luôn số tiền trước đây. Chị H tưởng thật nên đồng ý. Sau đó, T chở chị H đến tiệm cầm đồ “Thùy Dung” do Nguyễn Thị D, sinh năm 1977, ngụ ấp B, xã B, thành phố L làm chủ, tại đây T vào gặp chị D làm thủ tục cầm chiếc xe trên với số tiến 30.000.000 (ba mươi triệu)

đồng, số tiền này T cầm sử dụng. Khoảng tháng 12/2022, chủ tiệm cầm đồ có gọi điện thoại cho chị H yêu cầu đóng tiền lãi, chị H có gọi điện thoại cho T để thông báo về việc đóng lãi, T nói với chị H để T lo và tự làm việc với chủ cầm đồ, nếu chị H đóng tiền lãi cho chủ cảm đồ thì chị H tự chuộc xe ra, nghe T nói vậy chị H để T giải quyết. Khoảng 03 ngày sau, chị H phát hiện chiếc xe trên đã bị chủ tiệm cầm đồ bán thanh lý và chị H gọi điện thoại hỏi T, thì T nói “để nói chuyện với chủ tiệm cầm đồ", chị H tiếp tục gọi điện thoại cho chủ cầm đồ và chủ tiệm cầm đồ xác nhận do không đóng lãi, hết thời hạn cầm đồ nên chủ tiệm cầm đồ đã thanh lý chiếc xe trên.

Đến khoảng tháng 09/2022, T tiếp tục mượn tài khoản Momo của chị H giải quyết công việc chị H tưởng thật nên đồng ý cho mượn. Sau đó, T tự ý vào tài khoản MoMo của chị H vay một khoản tiền 15.000.000 đồng mà chị H không biết, số tiền này chị H đã chanh toán cả gốc và lãi là 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng, ngoài ra T còn vay qua ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) do chị H đứng tên số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng. Sau đó, chị H liên tục nhiều lần hỏi T về các khoản nợ trên nhưng T cử hứa hẹn và không trả. Ngoài số tiền T chiếm đoạt của chị H, trong khoảng thời gian trên T giới thiệu với chị Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1997; ngụ tại khu phố Đ, phường B, TP ., Bình Dương (là bạn của chị H) mình đang làm ở Công an tỉnh Đ và đang cần số tiền để giải quyết vụ án ma túy, chị N1 tường thật nên giao cho T số tiền 20.000.000 đồng. T chiếm đoạt và sử dụng tiêu xài cho mục đích cá nhân.

Ngày 07/01/2024, chị Nguyễn Thị Lan H và chị Đoàn Thị Hồng N tố cáo hành vi của Bùi Quang T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L

Tại bản kết luận số 44/HDDGTTTHS, ngày 15 tháng 8 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: một xe mô số thân hiệu SH mode, màu trắng, biển số 93P2-827.93, có giá trị 39.006.000 (ba mươi chín triệu không trăm linh sáu nghìn) đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.

* Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Lan H yêu cầu T bồi thường số tiền 127.006.000 (một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm linh sáu nghìn) đồng. Chị Đoàn Thị Hồng N yêu cầu T bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Quá trình Điều tra, T đồng ý nhưng chưa bồi thường cho chị H và chị N.

Tại cáo trạng số 14/CT-VKSLK ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Bùi Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo

đã thực hiện; đồng thời nêu nên các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để HĐXX xem xét, áp dụng khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Quang T với mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị tuyên buộc bị cáo Bùi Quang T bồi thường số tiền 127.006.000 (một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm linh sáu nghìn) đồng cho là chị Nguyễn Thị Lan H và số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng cho chị Đoàn Thị Hồng N theo quy định pháp luật.
  • + Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần phát biểu lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Xét thấy, Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ, quá trình Điều tra, truy tố những người này đã có đầy đủ lời khai trình bày. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội

đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm và Điều luật truy tố:

[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Bùi Quang T khai nhận: Vào khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2022, Bùi Quang T đưa ra thông tin gian dối mình là Công an với cấp hàm Đại uý, hiện đang làm Đội phó đội tham mưu của Đội chống tệ nạn Công an tỉnh Đ và là con nuôi của ông Vũ Hồng V1 - Giám đốc Công an tỉnh Đ để chị Nguyễn Thị Lan H tin tưởng và chiếm đoạt của chị H 04 lần với tổng số tiền 127.006.000 đồng. Cụ thể: Lần 1 với số tiền 54.000.000 đồng chuyển khoản; Lần 2 là chiếc xe mô tô hiệu SH mode (màu trắng) biển số 93P2-827.93 có giá trị 39.006.000 đồng; Lần 3 khoản vay cộng lãi suất qua ví Momo số tiền 22.000.000 đồng; Lần 4 vây qua Ngân hàng TMCP Q (MB) số tiền 12.000.000 đồng. Cũng với thủ đoạn như trên T còn chiếm đoạt của chị Đoàn Thị Hồng N số tiền 20.000.000 đồng. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt của chị H và chị N là 147.006.000 (một trăm bốn mươi bảy triệu, không trăm linh sáu nghìn) đồng.

[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đưa ra những thông tin gian dối, không có thật (nói mình là Công an với cấp hàm Đại uý, hiện đang làm Đội phó đội tham mưu của Đội chống tệ nạn Công an tỉnh Đ và là con nuôi của ông Vũ Hồng V1 - Giám đốc Công an tỉnh Đ) để tạo sự tin tưởng và chiếm đoạt nhiều lần của các bị hại với tổng số tiền 147.006.000 (một trăm bốn mươi bảy triệu, không trăm linh sáu nghìn) đồng. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Bùi Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố L đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội; số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại lớn (147.006.000 đồng); sau khi phạm tội bị cáo chưa khắc phục hậu quả do mình gây ra. Do đó, cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối, không có thật để tạo sự tin tưởng và chiếm đoạt nhiều lần tài sản của các bị hại với tổng số tiền 147.006.000 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi Quyết định mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, đấu tranh và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Lan H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền và tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 127.006.000 đồng. Chị Đoàn Thị Hồng N yêu cầu bị cáo bồi thường trả lại số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Quang T đồng ý bồi thường theo yêu cầu trên của các bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu buộc bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự của các bị hại và ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo. Cụ thể: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền 127.006.000 (một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm linh sáu nghìn) đồng cho là chị Nguyễn Thị Lan H và số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng cho chị Đoàn Thị Hồng N.

[7] Về án phí: Bị cáo Bùi Quang T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí HSST và 7.350.000 (bảy triệu, ba trăm năm mươi nghìn) đồng án phí DSST theo quy định.

[8] Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh: Xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Bùi Quang bồi T1 số tiền 127.006.000 (một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm linh sáu nghìn) đồng cho là chị Nguyễn Thị Lan H và số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng cho chị Đoàn Thị Hồng N.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Quang T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 7.350.000 (Bảy triệu, ba trăm năm mươi nghìn) đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND TP. Long Khánh (2);
  • - Thi hành án (8);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (2);
  • - Người có QLVNLQ (1);
  • - Lưu VP-HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thế Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger