|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2025/HS-ST
Ngày 03 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Nga
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tính
Bà Hoàng Thị Kim Quy
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: bà Phùng Mai Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 03/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lìu A T1; Tên gọi khác: không có; sinh ngày 02/9/1985 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Đ, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Giáy; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lìu A K (đã chết) và bà Vàng Thị L, sinh năm 1965; Có vợ là Lò Thị B, sinh năm 1984; Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là P trại thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L) (có mặt).
- Những người làm chứng:
- + Anh Lò Văn T, sinh năm 1996; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu “vắng mặt”.
- + Anh Lò Văn S, sinh năm 1993; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, “vắng mặt”.
- + Anh Lù Văn Q, sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Theo lời khai của Lìu A T1, khoảng 09 giờ sáng ngày 09/08/2024, Tết một mình đi bộ từ nhà tại bản Đ, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu đến một đồi chè thuộc bản Đ, xã B, huyện T tìm việc làm thuê thì gặp Lù Văn K1, sinh năm 1973, trú tại Bản G, xã B, huyện T. Sau đó K1 cho Tết 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 01 mảnh giấy ghi xổ số để Tết sử dụng. Tết nhận gói ma túy K1 cho và cất vào trong túi áo ngực bên trái để sử dụng sau. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Tết không tìm được việc làm tại xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu nên một mình đi bộ đến thành phố L để tiếp tục tìm việc làm, khi đi Tết vẫn đem theo gói Heroine của K1 cho.
Khoảng 11 giờ cùng ngày 09/8/2024, Tết đi đến nhà Hà Văn L1, sinh năm 1976, tại tổ B, phường Đ, thành phố L để hỏi xin việc nhưng không gặp ai ở nhà vì L1 đang đi chấp hành án. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi Tết đang ở nhà L thì gặp Lò Văn S, sinh năm 1993, Lù Văn Q, sinh năm 1990, cùng trú tại bản Tân Lập, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu và Lò Văn T, sinh năm 1996, trú tại bản Nậm Há, xã N, huyện S đến nhà L. Khi gặp T1 thì T đã hỏi mua 200.000 đồng ma túy của Tết nên T1 đã lấy gói Heroine của K1 cho từ trong túi áo ngực bên trái bán cho T với giá 200.000 đồng (200.000 đồng do T và S rủ nhau mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma tuý nhưng Tết và Q không biết). Mua bán ma túy xong, Tết cất 200.000 đồng vào túi quần bên trái đang mặc (trong túi quần bên trái này có một chiếc ví giả da màu nâu của Tết nhưng T1 không để tiền trong ví) rồi đi ra phía chuồng lợn của nhà L1 còn T và S đi ra phía chuồng trâu của nhà L1 để sử dụng ma túy, Q thấy vậy cùng đi theo T và S. Tư chia gói Heroine mua được thành 02 phần, 01 phần Tư để trong mảnh giấy ghi xổ số đặt xuống đất cho S còn T lấy 01 phần và sử dụng hết bằng hình thức chích. Khi T đang sử dụng ma túy thì S xé mảnh giấy bạc trong bao thuốc lá Thăng Long màu vàng nhặt dưới đất rồi tự lấy phần ma túy còn lại để sử dụng bằng hình thức hít. Khi S sử dụng xong ma túy, S đặt mảnh giấy bạc và bật lửa xuống đất thì Q tự cầm giấy bạc và bật lửa của S rồi sử dụng hết số Heroine còn sót lại ở giấy bạc. Quá trình Q sử dụng ma túy thì T và S đang phê ma túy nên không biết.
Hồi 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi T, S, Q vừa sử dụng ma túy xong thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đ, thành phố L kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác đã lập biên bản ghi nhận sự việc, thu giữ toàn bộ các vật chứng liên quan và triệu tập các đối tượng về làm việc. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành bắt, giữ đối với Lìu A T1 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Mở rộng điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố L đã triệu tập lấy lời khai Lù Văn K1, cho Lìu A T1 và Lù Văn K1 đối chất nhưng K1 không thừa nhận cho Tết Heroine như lời khai của Tết.
Tại Kết luận giám định số 1025/KL-KTHS ngày 21/08/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có mã số hiệu: VN B (thu giữ của Lìu A trong quá trình lập biên bản ghi nhận sự việc ngày 09/08/2024) gửi giám định là tiền thật.
* Tại phiên tòa hôm nay:
Những người làm chứng anh Lò Văn T, Lò Văn S, Lù Văn Q vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình điều tra đều trình bày hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 09/CT-VKSTP ngày 03/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố Lìu A T1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lìu A T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Lìu A từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024;
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự;
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc ví giả da màu nâu, đã cũ, có nhiều vết xước; Tịch thu tiêu huỷ 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng và 01 mảnh giấy ghi xổ số, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu vàng; 01 mảnh giấy bạc, một mặt có vết cháy đen; Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lìu A T1.
- Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Lìu A T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà, có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/8/2024, tại tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Lìu A vừa thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn T với giá 200.000 đồng để kiếm lời thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đ, thành phố L phát hiện.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo L2 A T1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nhưng do hám lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo L2 A T1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
Điều 251. Tội Mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[...]
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử cần quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc ví giả da màu nâu, đã cũ, có nhiều vết xước, trong ví không có tài sản, đồ vật gì. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đối với 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng và 01 mảnh giấy ghi xổ số thu giữ của Lò Văn T; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu vàng; 01 mảnh giấy bạc, một mặt có vết cháy đen thu giữ của Lò Văn S và Lù Văn Q. Những vật chứng nêu trên là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đối với 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có mã số hiệu: VN 22920688 thu giữ của Lìu A T1 là tiền Tết đã bán Heroine cho T. Xét thấy vật chứng trên là khoản thu lợi bất chính từ việc bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Các vấn đề khác của vụ án:
Bị cáo Lìu A T1 khai của thì nguồn gốc số Heroine bán cho Lò Văn T là Lù Văn K1 cho bị cáo. Tuy nhiên quá trình điều tra K1 không thừa nhận cho L2 A Tết ma túy, ngoài lời khai của Tết không có tài liệu, chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Lù Văn K1.
Đối Lò Văn T, Lò Văn S và Lù Văn Q đã sử dụng hết số ma túy T mua của Lìu A. Quá trình điều tra xác định khi T và S rủ nhau mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma túy sử dụng thì Q không biết. Giữa T, S, Q không có sự chỉ huy, phân công, điều hành, bàn bạc thống nhất với nhau về việc chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện để mua ma túy sử dụng. Công cụ sử dụng ma túy của T và S do mỗi người tự chuẩn bị, việc Q tự ý sử dụng số ma túy còn sót lại trên giấy bạc của S thì T và S đang phê ma túy nên đều không biết. Do đó T, S, Q không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và việc Cơ quan CSĐT Công an thành phố L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1368, 1369, 1370, cùng ngày 04/01/2025 đối với T, S, Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với Hà Văn L1, là chủ sở hữu ngôi nhà tại tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu nơi Lìu A T1 bán ma túy cho Lò Văn T và là nơi Lò Văn T, Lò Văn S và Lù Văn Q sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định thời điểm xảy ra sự việc thì Liễm đang đi chấp hành án, không có mặt ở nhà nên L1 không phạm tội.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Tuyên bố bị cáo Lìu A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 05 (lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.
[3] Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu vàng; 01 mảnh giấy bạc, một mặt có vết cháy đen, 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng và 01 mảnh giấy ghi xổ số;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 tờ tiền Việt Nam loại giấy polime, mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) có số seri VN B.
Trả lại cho bị cáo L2 A Tết: 01 chiếc ví giả da màu nâu, đã cũ, có nhiều vết xước, bên trong ví không có đồ vật, tài sản gì.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 11 giờ 00 phút ngày 07/02/2025 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu).
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bích Nga |
Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lìu A Tết phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
