Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 16-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ba.

2. Bà Lại Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Học – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Chinh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân huyện C, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2025/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 và thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử sơ thẩm số: 13/2025/TB-TA ngày 31-3-2025 đối với bị cáo:

TRƯƠNG VĂN D, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1990, tại tỉnh Đồng Nai;

CCCD số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Ấp G, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Ấp G, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn B, sinh năm: 1941 (đã chết) và bà Trình Ngọc Á, sinh năm: 1947; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2014/HS-ST ngày 02-4-2014, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, phạt 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng, về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 02-12-2015.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-12-2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến:

+ Anh Nguyễn Tấn Q, sinh năm: 2000 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố Q, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Bị cáo Trương Văn D là người nghiện ma tuý, vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 20-12-2024, bị cáo đến khu vực nghĩa địa thuộc ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, gặp người thanh niên tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 500.000 đồng ma túy đá, để sử dụng. Bị cáo đem về nhà tại ấp G, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai lấy một ít sử dụng, số còn lại bị cáo cất giấu phía sau máy lọc nước.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22-12-2024, Công an huyện C phối hợp với Công an xã X tiến hành kiểm tra hành chính nhà của bị cáo phát hiện số ma túy bị cáo cất giấu và tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn phát hiện và thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại phòng tắm phía sau nhà bị cáo.

Tại Kết luận giám định số 2674/KL-KTHS ngày 27 tháng 12 năm 2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ:

  • Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3064 gam, loại: Methamphetamine.
  • Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,2833 gam.

H lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong ký hiệu 2674/KL-KTHS.

* Vật chứng vụ án thu giữ:

  • 01 (Một) túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSCM ngày 05-3-2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố Trương Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Trương Văn D khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản Cáo trạng mô tả. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trương Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố Trương Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 18 tháng tù;

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong sau giám định số 2674/KL-KTHS ngày 27-12-2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trương Văn D khai nhận: Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 20-12-2024, bị cáo đến khu vực nghĩa địa ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, mua 500.000 đồng tiền ma túy đá về sử dụng, số còn lại bị cáo cất giấu phía sau máy lọc nước. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22-12-2024, Công an huyện C phối hợp với Công an xã X tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện số ma túy bị cáo cất giấu và tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định. Kết quả giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,3064 gam. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trương Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249, Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, nên cần đưa ra xét xử và áp dụng mức hình phạt nghiêm, nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo tàng trữ chất ma túy, loại Methampetamine, có khối lượng 0,3064 gam (thuộc phạm vi từ 0,1 gam đến dưới 5 gam), nên bị xét xử tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; dân tộc thiểu số, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 2, điều 51, Bộ luật Hình sự. Do đó, cũng xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

* Bị cáo khai mua ma túy của đối tượng tên B, chưa rõ nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[5] Về vật chứng:

- 01 (Một) phong bì được niêm phong sau giám định số: 2674/KL-KTHS ngày 27-12-2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, là ma túy và dụng cụ bị cáo cất giấu để sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Q1 về án phí.

Tuyên bố bị cáo Trương Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trương Văn D 01 năm 6 tháng (Một năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 22-12-2024.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (Một) phong bì được niêm phong sau giám định số: 2674/KL-KTHS ngày 27-12-2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ;
  • 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Tất cả đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ ngày 07-3-2025.

3. Về án phí:

Trương Văn D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND. Tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND. Tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ công an tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND. H.Cẩm Mỹ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Cẩm Mỹ;
  • - UBND: Xã Xuân Tây;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Anh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Dậu tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger