Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 11/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thành Hiếu
  • Ông Nguyễn Văn Tới

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái T - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Nguyễn Văn S, Giới tính: nam.

Sinh năm 1975 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 5/12.

Nghề nghiệp: Làm nông.

Cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1951 (đã chết)

Mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm 1949 (đã chết)

Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Đoàn Thị H, sinh năm 1976.

Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1998.

Hiện cùng ở thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ tên: Nguyễn Văn L, Giới tính: nam.

Sinh năm 1980 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn 02, xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 0/12.

Nghề nghiệp: Làm nông.

Cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1951 (đã chết).

Mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm 1949 (đã chết).

Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 3.

Vợ: Đào Thị Phương T1, sinh năm 1983.

Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008

Hiện cùng ở thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Ngày 21/3/1997, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 05 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 10/HSST ngày 21/3/1997. Được coi là không có án tích vì khi bị kết án L là dưới 18 tuổi và phạm tội ít nghiêm trọng.

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Công ty Cổ phần C1

Địa chỉ: Số F đường T, tổ D, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum, Việt Nam.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Lê H1, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Phạm Văn C, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  • Ông Nguyễn Vĩnh D, sinh năm 1978

Địa chỉ: Số E, đường H khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt các bị cáo, ông H1, những người còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S, sinh năm 1975 và Nguyễn Văn L, sinh năm 1980, cùng trú tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là anh em ruột. Để có tiền tiêu xài, S bàn bạc với L đi lấy trộm sắt thép của Công ty cổ phần C2, có trụ sở tại số F T, tổ D, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum đang thi công đoạn đường C, qua khu vực xã T, gần nhà của S và L thì S đồng ý, đã cùng L thực hiện các vụ trộm cắp như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng giữa tháng 5/2023 (không rõ ngày), S và L cùng nhau lén lút chui qua hàng rào thép gai bảo vệ cao tốc, đi vào nơi để các cây sắt của Công ty Cổ phần C2, gần lán trại công nhân ở, thuộc thôn B, xã T, huyện H để lấy trộm sắt. Tại đây, S và L cùng nhau kéo được khoảng 40 cây sắt phi có gờ, gồm nhiều loại phi 16, phi 20, phi 22, mỗi cây dài khoảng 12m và nhiều đoạn sắt dài 5-6m đem về nhà cất giấu. Sau đó, S dùng máy cắt sắt, cắt các thanh sắt dài ra thành đoạn ngắn khoảng 5-6m để đem bán. Đến ngày 08/6/2023, sau khi S cắt sắt xong thì L gọi điện thoại cho ông Phạm Văn C, sinh năm 1985, trú tại thôn K, xã H, huyện H, là người chuyên thu mua phế liệu đến mua. Khi mua bán thì S, L nói sắt này do nhặt được và một số thì mua lại của Công nhân làm đường. Sau khi xem sắt, ông C tin tưởng trả giá 7.200/kg, cân sắt được 820kg, ông C trả cho S số tiền 5.900.000 đồng. Do không có phương tiện chở nên ông C thuê ông Nguyễn Vĩnh D, sinh năm 1978, tạm trú khu phố L, thị trấn M, H điều khiển xe ô tô biển số 38C-095.93 đến chở số sắt trên về vựa thu mua phế liệu tại thôn K, xã H với tiền cước 700.000 đồng cho một chuyến. Số tiền bán sắt được, S chia cho L 3.000.000 đồng và tiêu xài hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng giữa tháng 6/2023 (không rõ ngày), S và L tiếp tục rủ nhau đi lấy trộm sắt của Công ty Cổ phần C2 đang thi công về bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 20 giờ, S và L đi bộ đến khu vực để sắt gần lán trại của công nhân tại thôn B, xã T. S và L chui qua hàng rào thép gai của cao tốc đi đến nơi để các cây sắt. Tại đây, không có ai trông coi nên S và L kéo được khoảng 35 cây sắt có gờ, phi 16, phi 20, phi 22 (cây dài khoảng 12m và đoạn ngắn khoảng 5-6m) qua hàng rào thép gai. Sau đó, S và L khiêng số sắt lấy trộm được về cất giấu sau vườn nhà. Sau đó, S dùng máy cắt sắt, cắt các cây sắt dài thành đoạn ngắn khoảng 5-6m để không bị nghi ngờ khi đem bán. Đến ngày 01/7/2023, sau khi S cắt sắt xong thì L gọi điện cho ông Phạm Văn C đến mua sắt. Khi mua bán thì S, L nói sắt nhặt được và một số thì mua lại của Công nhân làm làm đường. Ông C xem sắt, đồng ý trả giá 7.200 đ/kg và cân được 840kg, ông C đưa cho S số tiền 6.100.000đ, S chia cho L số tiền 3.000.000đ. Do không có phương tiện chở về nên ông C liên hệ thuê xe ô tô biển số 38C-095.93 của ông D đến chở số sắt trên về vựa thu mua tại xã H với tiền cước 650.000 đồng.

Ngoài 2 lần cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp sắt nêu trên, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn L còn một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty Cổ phần C2, tại khu vực thôn B, xã T, huyện H, cụ thể như sau:

Đối với Nguyễn Văn L:

Khoảng đầu tháng 7/2023 (không rõ ngày), Nguyễn Văn L đi cắt cỏ dọc theo đường cao tốc đang thi công ở thôn B, xã T, huyện H, gần khu vực lán trại công nhân ở của Công ty Cổ phần C2. Thấy có 02 tấm biển chỉ dẫn bằng tôn nằm cách mép đường khoảng 15-20m, L lấy đem về nhà. Đến ngày 11/7/2023, L tự nguyện giao nộp cho Công an xã T để xử lý.

Đối với Nguyễn Văn S:

Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 6/2023 (không rõ ngày), trên đường đi làm ruộng trên đường tránh cao tốc, đoạn thôn B, xã T, cách nhà khoảng 500 - 700m thì S thấy các ống kẽm loại ống 90 để trên mép đường cao tốc gần cầu vượt sông T của Công ty Cổ phần C2. Quan sát không thấy ai trông coi, S nảy sinh ý định lấy trộm số ống sắt trên về nhà để làm mái che. Sau đó, S điều khiển xe mô tô biển số 86B3-920.05 đến lần lượt chở được 18 ống kẽm đường kính 88,3mm (17 ống kẽm dài 6,45m, 01 ống kẽm dài 5,8m) đưa về sau vườn nhà S cất giấu. Đến ngày 11/7/2023, Công an xã T kiểm tra, phát hiện tạm giữ số ống kẽm trên.

Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 7/2023 (không rõ ngày), lúc 22 giờ, S điều khiển xe mô tô biển số 86B3-920.05 đến khu đất đối diện khu lán trại của Công ty Cổ phần C2, thuộc thôn B, xã T, cách nhà khoảng 200m. Tại đây, S lén lút lấy trộm 10 tấm tôn sóng (loại dùng để làm lan can đường cao tốc) dài 5,6m; rộng khoảng 31cm chở về nhà cất giấu chờ đem đi tiêu thụ. Đến ngày 11/7/2023, bị Công an xã T kiểm tra, phát hiện nên tạm giữ.

Lần thứ ba: Khoảng đầu tháng 7/2023 (không rõ ngày), lúc 19 giờ, S nảy sinh ý định lấy trộm sắt của công ty đang thi công đường Cao tốc Bắc Nam về đem bán lấy tiền nên đi bộ một mình chui qua hàng rào thép gai bảo vệ đường cao tốc, đi vào khu vực để các thanh sắt là vật liệu xây dựng của Công ty Cổ phần C2, thuộc thôn B, xã T, cách lán trại nơi công nhân ở khoảng 50m -100m. Quan sát thấy không có người trông coi nên S đã dùng tay kéo được khoảng 35 cây sắt có gờ, gồm nhiều loại dài khoảng 12m và 4m-5m; phi 10, phi 14, phi A, phi 18, phi 20 và phi 22 qua hàng rào thép gai, sau đó kéo về nhà cách đó khoảng 150m cất giấu chờ đem đi bán. Sau đó, S dùng máy cắt sắt, cắt các thanh sắt dài ra thành đoạn ngắn khoảng 3m -4m (01thanh sắt phi 22 dài 4,2m; 03 thanh sắt phi 22 dài 3,1m; 43 thanh sắt phi 20 dài 4,2m; 07 thanh sắt phi 18 dài 4m; 31 thanh sắt phi 16 dài 4m; 04 thanh sắt phi 14 dài 4m; 01 thanh sắt phi 10 dài 4m) cân được 760Kg, S cất giấu cùng với 90Kg sắt phế liệu (gồm 01 kết cấu sắt hình thang dài 2m; 01 thanh sắt hộp dài 4m; 02 thanh sắt hộp dài 6m; 04 thanh sắt phi 14 dài 5m) đã nhặt trước đó chờ tiêu thụ. Đến ngày 11/7/2023, S gọi điện thoại cho ông Phạm Văn C, sinh năm 1985, trú tại thôn K, xã H, huyện H đến mua sắt thì ông C đồng ý. Sau đó, ông C đến xem sắt, trả giá 7.200 đồng/kg sắt và cân được 850kg, ông C đưa cho S số tiền 6.120.000 đồng. Sau đó, ông C thuê xe ô tô biển số 38C-095. 93 của ông Nguyễn Vĩnh D chở số sắt trên về vựa thu mua phế liệu tại xã H, trên đường đi thì bị Công an xã T mời về làm việc tạm giữ phương tiện và số sắt trên xe để làm rõ.

Kết luận định giá tài sản số 85/KL – HĐĐGTS ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:

  • 17 ống kẽm có chiều dài 6,45m, đường kính 88,3mm, dày 3mm và 01 ống kẽm dài 5,8m, đường kính 88,3mm, dày 3mm, thời điểm định giá cuối tháng 6/2023. Trị giá: 41.400.000 đồng.
  • 10 tấm tôn kẽm (dùng làm lan can đường cao tốc), mỗi tấm bằng nhau dài 5,6m, rộng 31cm, dày 4mm, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá: 14.400.000 đồng.
  • 09 cây sắt phi 22 (loại sắt Hòa P có gờ) dài 11,7m (301 kg), thời điểm định giá cuối tháng 4/2023. Trị giá: 5.765.542 đồng.
  • 35 cây sắt phi 20 (loại sắt phi có gờ) dài 11,7m (971,95 kg), thời điểm định giá cuối tháng 6/2023. Trị giá: 18.583.684 đồng.
  • 01 cây sắt phi 20 dài 5,4m, có khối lượng 12,6 kg, thời điểm định giá cuối tháng 6/2023. Trị giá: 88.200 đồng.
  • 01 cây sắt phi 20 dài 5,5m, có khối lượng 12,8 kg, thời điểm định giá cuối tháng 6/2023. Trị giá: 89.600 đồng.
  • 02 tấm biển bằng tôn kẽm có kích thước bằng nhau dài 2,15m rộng 1,55m, có tổng khối lượng là 61 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá: 305.000 đồng.
  • 01 thanh sắt phi 22, dài 4,2m, có khối lượng 12 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 48.000 đồng.
  • 03 thanh sắt phi 22, dài 3,1m/thanh, có tổng khối lượng 27 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 189.000 đồng.
  • 43 thanh sắt phi 20, dài 4,2m/thanh, có tổng khối lượng 438 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 3.066.000 đồng.
  • 07 thanh sắt phi 18, dài 4m/thanh, có tổng khối lượng 59 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 413.000 đồng.
  • 31 thanh sắt phi 16, dài 4m/thanh, có tổng khối lượng 199 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 1.393.000 đồng.
  • 04 thanh sắt phi 14, dài 4m/thanh, có tổng khối lượng 23 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 161.000 đồng.
  • 01 thanh sắt phi 10, dài 4m/thanh, có khối lượng 2 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá 14.000 đồng.
  • 01 kết cấu sắt hình thang (sắt hộp 5 x 5) dài 2m, ngang 50cm, có khối lượng 25 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá: 175.000 đồng.
  • 01 thanh sắt hộp (4 x 8) cm, dài 4m có khối lượng 25 kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá: 175.000 đồng.
  • 02 thanh sắt hộp (3 x 3)cm dài 06m/thanh, bị gập đôi, có khối lượng 20kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá: 140.000 đồng.
  • 04 thanh sắt phi 14 đã bị uốn cong và bó lại (đã qua sử dụng) dài 5m, có khối lượng 20kg, thời điểm định giá đầu tháng 7/2023. Trị giá: 140.000 đồng.
  • 820 kg sắt (gồm nhiều đoạn sắt ngắn các loại), thời điểm định giá giữa tháng 5/2023. Trị giá: 5.740.000 đồng.
  • 840 kg sắt (gồm nhiều đoạn sắt ngắn), thời điểm định giá giữ tháng 6/2023. Trị giá: 5.880.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản qua định giá là: 98.202.026 đồng.

Tuy nhiên quá trình điều tra, Nguyễn Văn L khai đối với tổng khối lượng 1.298,35 kg sắt, gồm 09 cây sắt phi 22 dài 11,7m, 35 cây sắt phi 20 dài 11,7m, 01 cây sắt phi 20 dài 5,4m, 01 cây sắt phi 20 dài 5,5m đã giao nộp cho Công an xã T, có tổng giá trị là: 24.527.026 đồng là sắt Lực mua lại của một số công nhân làm công trình đường cao tốc bán lại để dành sửa nhà, không phải sắt Lực trộm cắp của Công ty Cổ phần C2.

Đối với khối lượng 90 kg sắt phế liệu, gồm 01 kết cấu sắt hình thang dài 2m, 01 thanh sắt hộp dài 4m, 02 thanh sắt hộp dài 6m/thanh, 04 thanh sắt phi 14 đã bị uốn cong và bó lại, có tổng giá trị qua định giá là: 630.000 đồng. Nguyễn Văn S khai nhận đó là sắt S nhặt được để dồn lại bán phế liệu, không phải sắt S đi trộm cắp của Công ty Cổ phần C2.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • 17 ống kẽm có chiều dài 6,45m, đường kính 88,3mm, dày 3mm; 01 ống kẽm dài 5,8m, đường kính 88,3mm, dày 3mm; 10 tấm tôn kẽm, mỗi tấm bằng nhau dài 5,6m, rộng 31cm, dày 4mm; 02 tấm biển bằng tôn kẽm có kích thước bằng nhau dài 2,15m rộng 1,55m; 01 thanh sắt phi 22, dài 4,2m; 03 thanh sắt phi 22, dài 3,1m/thanh; 43 thanh sắt phi 20, dài 4,2m/thanh; 07 thanh sắt phi 18, dài 4m/thanh; 31 thanh sắt phi 16, dài 4m/thanh; 04 thanh sắt phi 14, dài 4m/thanh; 01 thanh sắt phi 10, dài 4m/thanh. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là Công ty Cổ phần C2 do ông Võ Lê H1 đại diện theo ủy quyền theo đúng quy định.
  • Đối với 90 kg sắt phế liệu mà Nguyễn Văn S nhặt được gồm: 01 kết cấu sắt hình thang (sắt hộp 5 x 5) dài 2m, ngang 50cm; 01 thanh sắt hộp (4 x 8) cm, dài 4m; 02 thanh sắt hộp (3 x 3)cm dài 06m/thanh, bị gập đôi; 04 thanh sắt phi 14 đã bị uốn cong và bó lại (đã qua sử dụng) dài 5m. Sau khi tạm giữ làm rõ số sắt trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Văn S.
  • Đối với 1.298,35 kg sắt gồm: 09 cây sắt phi 22 (loại sắt Hòa P có gờ) dài 11,7m (301 kg); 35 cây sắt phi 20 (loại sắt phi có gờ) dài 11,7m (971,95 kg); 01 cây sắt phi 20 dài 5,4m; 01 cây sắt phi 20 dài 5,5m do Nguyễn Văn L mua lại của một số công nhân. Sau khi tạm giữ và làm rõ số sắt trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Nguyễn Văn L.
  • Đối với xe mô tô biển số 86B3- 920.05 hiệu Wave RSX do Nguyễn Văn L1 (con ruột Nguyễn Văn S) làm chủ sở hữu. Ông S lấy xe dùng làm phương tiện phạm tội, L1 không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không thu giữ xử lý.
  • Đối với số sắt S và L trộm lần thứ nhất vào giữ tháng 5/2023, trộm lần thứ 2 vào giữa tháng 06/2023. S và L đem bán cho ông C vào ngày 08/6/2023 và ngày 01/7/2023, sau đó ông C đã bán lại cho khách hàng không rõ họ tên địa chỉ nên không thu hồi được.
  • Đối với 01 xe ô tô tải biển số 38C – 095.93; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 38C – 095.93; 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 38C – 095.93. Đây là xe và giấy tờ xe của ông Nguyễn Vĩnh D, được ông Phạm Văn C thuê chở sắt mua của ông S và ông L. Tuy nhiên, ông D chỉ là người chở thuê, không biết số sắt trên ông L và ông S trộm cắp mà có. Do đó, Sau khi tạm giữ và làm rõ Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông D theo đúng quy định.
  • Đối với số tiền 6.120.000 đồng bán sắt cho ông Phạm Văn C, Nguyễn Văn S giao nộp cho Cơ quan CSĐT. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra quyết định chuyển vật chứng trên từ Cơ quan CSĐT – Công an huyện H đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc Bảo quản, chờ xử lý.

Về dân sự:

Sau khi nhận lại một số sắt thu hồi được, đại diện cho bị hại là ông Võ Lê H1 yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 56.660.000 đồng, bao gồm các khoản sau: Giá trị sắt mà Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn L chiếm đoạt không thu hồi được là 11.620.000 đồng; tiền chi phí thuê nhân công, tiền vận chuyển số sắt thép từ nhà ông S, ông L về Công ty là 16.000.000 đồng; thiệt hại khác liên quan đến việc tài sản bị mất cắp công ty phải mua vật tư để bổ sung ảnh hưởng đến quá trình thi công là: 29.040.000 đồng.

Nguyễn Văn L đã bồi thường được 8.000.000 đồng, Nguyễn Văn S chưa bồi thường.

Ông Phạm Văn C người mua sắt ông S bán vào ngày 11/7/2023 với số tiền 6.120.000 đồng, sắt đã bị thu giữ. Ông C yêu cầu ông S bồi thường số tiền 6.120.000đồng, S chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSHTB ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trước phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn S đã bồi thường số tiền 6.120.000đồng cho ông Phạm Văn C và đã bồi thường đủ số tiền 56.660.000 đồng cho bị hại.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung tại cáo trạng số 18/CT-VKSHTB ngày 15/01/2025. Đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

b) Xử lý vật chứng:

  • Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 6.120.000đồng.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã nêu. Các bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ. Căn cứ đề nghị của các bị cáo, bị hại và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện:

Khoảng giữa tháng 5/2023, bị cáo Nguyễn Văn S cùng bị cáo Nguyễn Văn L đã lén lút chui qua hàng trào thép gai của công trình thi công đường cao tốc, đi đến khu để vật tư của Công ty Cổ phần C2 đang thi công tại thôn B, xã T, huyện H để lấy trộm khoảng 40 cây sắt phi 16, 20, 22, có gờ, mỗi cây có chiều dài khoảng 12m và nhiều đoạn sắt được cắt ngắn khoảng 5m – 6m đem về nhà cất giấu và cắt ra thành từng đoạn. Sau đó, bán cho ông Phạm Văn C được 820kg với giá 7.200/kg, được 5.900.000 đồng.

Khoảng giữa tháng 6/2023, hai bị cáo tiếp tục đi đến khu để vật tư của Công ty Cổ phần C2 đang thi công tại thôn B, xã T, huyện H lén lút lấy trộm khoảng 35 cây sắt phi 16, 20, 22 có gờ, dài khoảng 12m và nhiều đoạn sắt dài 5m – 6m đem về nhà cất giấu rồi cắt ra thành đoạn ngắn khoảng 5m – 6m. Sau đó, bán cho Phạm Văn C với giá 7.200/kg được 840kg với số tiền 6.100.000 đồng. Tổng giá trị sắt qua 02 lần S và L chiếm đoạt là: 11.620.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là: 12.000.000 đồng.

Ngoài ra khoảng đầu tháng 7/2023, bị cáo Nguyễn Văn L một mình lấy trộm 02 tấm biển chỉ dẫn bằng tôn có giá trị là 305.000 đồng.

Vào khoảng cuối tháng 6/2023, bị cáo Nguyễn Văn S một mình lấy trộm 18 ống kẽm trên đường tránh cao tốc nơi Công ty Cổ phần C2 tập kết để lắp trụ biển báo, có giá trị là 41.400.000 đồng. Khoảng đầu tháng 7/2023, bị cáo Nguyễn Văn S một mình lấy trộm 10 tấm tôn kẽm có giá trị 14.400.000 đồng và khoảng 35 cây sắt phi 10, 14, 16, 18, có gờ, có chiều dài khoảng 12m và khoảng 6m. Tổng giá trị là 5.320.000 đồng

Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 11.925.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn S đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 72.740.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố là đúng người, đúng tội và không oan sai cho các bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn L nhiều lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng, là “phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo có người thân có công cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Nhận thấy, hành vi của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công khi thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cần phải xử lý và áp dụng những hình phạt nghiêm khắc tương xứng để trừng trị, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời tuyên truyền pháp luật và nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bồi thường cho ông Phạm Văn C, không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Số tiền 6.120.000 đồng bị cáo S đã bán sắt trộm được cho ông Phạm Văn C, bị cáo Nguyễn Văn S đã giao nộp số tiền này cho Cơ quan cảnh sát điều tra, số sắt thu giữ được đã được trả lại cho bị hại. Sau đó bị cáo S đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại và cho ông C. Do vậy, Hội đồng xét xử giao trả số tiền 6.120.000 đồng cho bị cáo S.

Đối với các vật chứng khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý đúng quy định nên Hội đồng xét xử không giải quyết nữa.

[7]. Ông Phạm Văn C người mua sắt và ông Nguyễn Vĩnh D người được ông C thuê chở sắt mua từ các bị cáo. Tuy nhiên, ông C, ông D không biết số sắt trên do các bị cáo trộm cắp mà có nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 6.120.000đồng.

Theo ủy nhiệm chi được lập ngày 18/02/2025 tại kho bạc nhà nước huyện H.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (11/3/2025). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • Những người tham gia tố tụng;
  • VKS nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc;
  • Cơ quan THA hình sự CA Hàm Thuận Bắc;
  • CQ CSĐT CA Hàm Thuận Bắc;
  • Nhà tạm giữ CA Hàm Thuận Bắc;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger