|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày : 05 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đối với bị cáo:
MA S1 (Tên gọi khác: A S), sinh năm: 1990 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không;
trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Chàm C, sinh năm: 1962 và bà Sây N, sinh năm: 1960;
Gia đình có 09 chị em; bị cáo là con thứ sáu;
Vợ, con: Không có.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 15/01/2025, bị Trưởng Công an xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02/QĐ-XPHC;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 20/01/2025, bị chuyển sang tạm giam ngày 23/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực H.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Trần Anh Đ, sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt);
- Người làm chứng: Ông Pol Gia M, sinh năm: 1974; địa chỉ: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 13/12/2022, Pol Gia M, sinh năm 1974 (trú tại ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) rủ Ma S1, sinh năm 1990, trú cùng thôn, đi bẫy chim cút. Pol Gia M điều khiển xe môtô biển số 60B5 - 443.28 chở theo Ma Sirt đi từ xã X, huyện X đến khu vực rẫy thanh long tại thôn T, xã S, huyện H để bẫy cút, khi đi có mang theo 02 túi ny lon treo trên xe môtô 60B5 - 443.28. Khi đến nơi, Pol Gia M có nhặt được một cây kéo ở chòi rẫy gần đó. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Pol Gia M và Ma S1 không bẫy được con chim nào nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, cả hai bàn với nhau đi trộm dây điện, bóng đèn trong rẫy thanh long. Thấy rẫy thanh long của ông Trần Anh Đ, sinh năm 1983 (trú tại: thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận) không có người trông coi, Pol Gia M đưa cây kéo nhặt được cho Ma S1 để Ma Sirt cắt dây điện và bóng đèn, còn Pol Gia M thì cuộn tròn cả bóng và dây điện do Ma S1 cắt được bỏ vào túi ny lon. Khi cả hai đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị người dân phát hiện, Pol Gia M và Ma S1 bỏ chạy. Tuy nhiên, Pol Gia M bị người dân bắt giữ được cùng tang vật, còn Ma S1 thì chạy thoát.
Ngày 20/01/2025, Ma S1 ra đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện H. Quá trình làm việc, Ma S1 thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận tổng giá trị của 77 bóng đèn led 10 W (kèm theo đuôi bóng đèn) có giá trị 2.489.025 đồng; 200 mét dây điện loại 2.5, thời điểm ngày 13/12/2022 là 900.000 đồng; tổng giá trị là 3.389.025 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 77 bóng đèn led 10 W (kèm theo đuôi bóng đèn) và 200 mét dây điện: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Anh Đ, sinh năm 1983 (trú tại: thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận) theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số: 05/QĐ-ĐTTH ngày 09/01/2023;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 60B5 - 443.28; 02 bao nylon và 01 cây kéo bằng kim loại có cán bọc nhựa màu đen dài khoảng 20 cm. Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã xử lý vật chứng tại Bản án số: 34/2023/HS-ST ngày 05/7/2023.
Phần dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, ông Trần Anh Đ đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không yêu cầu gì thêm, có đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cho Ma S1.
Đối với Pol Gia M đã bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân tuyên phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 34/2023/HS-ST ngày 05/7/2023.
Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 03/4/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Ma S1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo. Quá trình tranh luận đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Ma S1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung Cáo trạng đã truy tố, đồng thời xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ma S1 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Về vật chứng: Đã được xử lý nên không xem xét giải quyết.
Về dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân; thống nhất với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử, thấy rằng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra, bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Bị cáo Ma S1 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 13/12/2022, tại rẫy thanh long của ông Trần Anh Đ thuộc thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Ma S1 đã cùng với Pol Gia M có hành vi lén lút chiếm đoạt 77 bộ bóng đèn và 200 mét dây điện của ông Trần Anh Đ có tổng giá trị là 3.389.025 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được luật hình sự bảo vệ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo và Pol Gia M cố ý cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ, không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo là người thực hành tích cực.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Trưởng Công an xã X, huyện X xử phạt hành chính. Bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, bị hại có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nghĩ cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý tội phạm; trong thời gian này, bị cáo còn có hành vi vi phạm pháp luật hành chính nên cần dành cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Pol Gia M đã bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử theo Bản án số 34/2023/HS-ST ngày 05/7/2023 nên không xem xét trong vụ án này.
[8] Về vật chứng vụ án: Đối với 77 bóng đèn led 10 W (kèm theo đuôi bóng đèn) và 200 mét dây điện, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Anh Đ là có căn cứ nên không xem xét giải quyết. Đối với 01 xe
mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 60B5 - 443.28; 02 bao nylon và 01 cây kéo bằng kim loại có cán bọc nhựa màu đen dài khoảng 20 cm đã xử lý tại Bản án số: 34/2023/HS-ST ngày 05/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân nên không xem xét giải quyết.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Ma S1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ma S1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/01/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý nên không xem xét giải quyết.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ma S1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/6/2025); bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Trọng |
5
Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma s
