Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-PT

Ngày 20 tháng 3 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương và bà Nguyễn Thị Kim Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo kháng cáo: Phạm Hữu D

sinh ngày 07/8/1995 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hải Q, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến ngày 14/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; triệu tập có mặt tại phiên toà.

Trong vụ án còn có các bị cáo: Ngô Văn N, Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T, Tăng Văn H1, Phạm Tiến S, Phạm Công T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 06/10/2023, anh Đinh Bá Q1, anh Đào Mạnh C, anh Đinh Bá Vĩ C1, anh Đinh Bá Đ, anh Ngô Bình A, anh Ngô An B và Ngô Văn N hát tại tầng 2 quán hát “Karaoke X6” tại thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình sau đó anh Đào Mạnh C đi về trước. Tại thời điểm đó quán hát còn có Phạm Công T1, Phạm Công T2, Phạm Hữu D, Lê Thành Đ1, Nguyễn Viết D1 (D1 là người quản lý nhân viên nữ đang rót bia trên phòng hát của anh Q1) đang dự tiệc dự tiệc liên hoan của chủ nhà. D1 gọi điện rủ thêm 02 nam thanh niên là bạn của D1 (01 người tên là N1, 01 người tên là T3). Khoảng 21 giờ thì T1, T2 và D về trước còn D1, N1, T3 lên phòng 602 (tầng 2) của quán hát, cạnh phòng nhóm của anh Q1 đang hát; Đ1 ngồi trước cửa quán ở tầng 1 uống nước.

Anh Đinh Bá Q1 có mâu thuẫn với nhân viên nữ của quán hát nên đuổi nhân viên ra ngoài. Do hiểu nhầm là Đinh Bá Q1 chửi mình nên Nguyễn Viết D1 cùng T3 và N1 gọi anh Q1 xuống tầng 1 của quán nói chuyện. Tại đây Đinh Bá Q1 và Nguyễn Viết D1 cãi, chửi nhau trước cửa quán; T3 lao đến đạp vào người Đinh Bá Q1; bị cáo N (bạn của Q1) đang ngồi trên yên xe của D1 thì bị T3 đạp xuống xe. Triệu mở cốp xe mô tô của D1 thì Lê Thành Đ1 đi đến nhìn thấy bên trong có 03 con dao, mỗi dao dài khoảng 35cm. Đ1 cầm 03 dao trên tay thì làm rơi 01 dao xuống mặt đường, ngay vị trí N đứng. Thấy Đ1 cầm 02 dao đi đến chỗ anh Q1, N liền nhặt dao lên đi đến chém về phía D1 thì trúng vào vùng vai, cổ của D1. Thấy D1 bị chém, Đ1 cầm 02 dao ở 02 tay đi đến chỗ N, khi cách nhau khoảng 1,5m thì N cầm dao chém về phía Đ1, Đ1 giơ tay lên đỡ thì bị trúng vào trán, tay, trượt xuống chân Đ1. Anh Q1 và N bỏ chạy về hướng cánh đồng, Đ1 và T3 mỗi người cầm 01 dao đuổi theo N. Khi chạy được khoảng 70m thì N bị vấp ngã xuống ruộng, Đ1 và Triệu đuổi kịp cả hai dùng dao chém về phía N 3 đến 4 phát thì trúng vùng thái dương trái và 02 tay của N. Nghiêm xin thì Đ1 và T3 không đánh nữa và bỏ đi về quán hát. Khoảng 05 phút sau, Đ1 và 01 thanh niên khác (chưa xác định được là ai) đi đến chỗ N đang ngồi, Đ1 tiếp tục chém 01 nhát trúng vào vùng thắt lưng trái của N rồi bỏ đi. Nghiêm được người nhà đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T; còn D1 trước đó được N1 và T3 chở đến Bệnh viện Đ2 điều trị.

Cùng thời điểm này, nhóm của Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T, Tăng Văn H1 cùng với anh Đào Thành K, anh Bùi Hữu N1 đang ngồi uống bia ở nhà anh N1. Anh K nhận được cuộc gọi điện thoại của 01 nhân viên nữ ở quán nói Đ1 bị chém ở quán H3. Do ở cùng thôn và chơi với Đ1 nên cả nhóm đi 02 xe mô tô đến quán hát X6, mục đích để xem Đ1 bị thương thế nào. V đi xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ - đen chở Vũ Mạnh T và H1 đến quán hát X6 trước, thì thấy Đ1 ngồi trên ghế ở tầng 1, cạnh quầy lễ tân, trên đầu Đ1 đã được băng vết thương bằng áo. T hỏi Đ1 có bị sao không, Đ1 trả lời không sao. Anh K và anh N1 đến sau và đưa Đ1 đến Bệnh viện Đ2 điều trị. V, T và H1 đi ra trước cửa quán thì nghe thấy có người nói, bọn nó chạy lên kia rồi. V, T và H1 đi xe mô tô đuổi theo đến nghĩa trang xã S, cách quán hát khoảng 500m thì gặp anh Đào Mạnh C, anh Ngô An B và anh Đinh Bá V1 C đang đứng bên đường. Cho rằng những người này đã đánh, gây thương tích cho Đ1 nên V, T và H1 chửi. Vũ Mạnh T lấy gậy gấp bằng kim loại (gậy 3 khúc) ở trong cốp xe rồi cùng V và H1 đuổi đánh anh Đào Mạnh C, anh Đinh Bá V1 C và anh B. Anh Đinh Bá V1 C chạy bộ về hướng cánh đồng để trốn. Anh B đi xe mô tô chở anh Đào Mạnh C đến UBND xã S để trình báo sự việc thì bị V, Vũ Mạnh T và H1 đi xe mô tô đuổi theo. Anh B để xe mô tô đổ ngã ở sân Ủy ban lại chạy bộ qua lán để xe, đi ra ngoài trốn ở cánh đồng phía sau UBND xã. Anh Đào Mạnh C chạy vào trong phòng bảo vệ trốn và nhờ ông Phạm Văn S1 (là nhân viên bảo vệ của UBND xã) khóa cửa phòng. Thấy anh Đào Mạnh C trốn trong phòng bảo vệ thì Vũ Mạnh T một tay cầm gậy gấp, một tay giật cánh cửa phòng bảo vệ nhưng không mở được cửa. Vũ Mạnh T, V, H1 và 01 nam thanh niên cầm xẻng (chưa xác định được là ai) đứng trước cửa phòng bảo vệ, đi lại trong sân UBND xã chửi, yêu cầu anh Đào Mạnh Cường ra ngoài và đi đến khu vực lán để xe tìm anh B. Ông S1 liên tục xin nhóm V đi về, không chửi, không đập phá đồ đạc của Ủy ban nhưng không được.

Đối với bị cáo Phạm Hữu D khi đang chơi ở nhà anh Phạm Đình N2 thì nhận được điện thoại của anh N1 (quê Vũ T4) nói D1 bị chém ở quán H3. D cùng Phạm Tiến S, Phạm Đình N2 đi 02 xe mô tô đến quán H3 để đưa D1 đi bệnh viện, tuy nhiên, D1 đã được đưa đến Trạm Y tế xã S điều trị nên cả 03 đi đến Trạm Y tế xã. Khi đi đến cổng Ủy ban nhân dân xã S (UBND) thì thấy nhóm V đang chửi trong sân UBND và nghe thấy có người nói là người chém D1 đang trốn ở trong Ủy ban. Thấy ở bụi cỏ ven đường, gần cổng UBND có 01 dao (dạng dao mèo) dài khoảng 60 cm, có vỏ dao bằng gỗ màu vàng và 01 gậy gấp bằng kim loại (gậy 3 khúc); D dùng tay phải cầm dao lên chạy vào trong sân UBND xã vừa chạy đi tìm người đã đánh D1 và Đ1, vừa hô, vừa chửi đồng thời chỉ tay về phía lán xe nó với V, T và H1 đi tìm người đã đánh D1 và Đ1; anh N2 đi xe mô tô về nhà trước; V nhặt 03 viên gạch ở sân UBND xã đưa cho S 01 viên; T cầm gậy gấp; V, T, S và H1 đi về hướng lán để xe và đi quanh sân Ủy ban tìm người (tìm anh B) để đánh; D cầm dao tìm theo hướng ngược lại. Tìm một lúc không thấy, cả 05 người (V, T, H1, D và S) quay lại trước phòng bảo vệ, đứng chửi. Vương ném 01 viên gạch về phía cửa gỗ phòng bảo vệ, làm viên gạch bị vỡ; H1 cản không cho V ném gạch nữa.

Lúc này, Phạm Công T1 và Phạm Công T2 đi xe ô tô đến đỗ trước cổng UBND xã, D đứng cầm dao nói với T1 và T2: “Nó đang trốn ở trong này” và chỉ về hướng phòng bảo vệ. T1 chạy vào trong sân Ủy ban, về phía phòng bảo vệ, đứng chửi, T2 lấy trong xe ô tô 01 gậy gỗ (loại gậy chơi bi-a, đã bị gẫy) dài khoảng 75cm rồi chạy vào, đi quanh sân Ủy ban tìm người đã đánh D1 và Đ1. Khi nghe thấy tiếng xe ô tô của T2 đỗ trước cổng Ủy ban, ông S1 đang ở bên trong phòng bảo vệ, tưởng xe của Công an xã S đến làm nhiệm vụ nên đã mở khóa cửa phòng. V, T, H1, D, S và T1 chạy vào trong phòng bảo vệ chửi. Thấy anh Mạnh C đang đứng ở góc phòng cầm ghế inox, T1 lao vào ôm giữ anh Mạnh C. Anh Mạnh C vùng ra được thì T1 chạy lại, dùng tay kẹp cổ anh Mạnh C, kéo vào người T1. Sinh đến giật chiếc ghế trong tay anh Mạnh C ra. V, T dùng tay, chân đánh anh Mạnh C. Ông Sáu S2, bỏ chạy ra bên ngoài. Cả nhóm xô bàn, xô ghế tại phòng bảo vệ chửi. V cầm 04 chiếc chén nhỏ uống nước bằng sứ màu trắng, ném về phía anh Đào Mạnh C nhưng không trúng, chén va vào tường nhà và bị vỡ. Thấy vậy ông S1 hô: “Công an đến” thì V, T, H1, D, S bỏ chạy ra ngoài. D vất 01 dao (dao mèo) xuống ruộng, T2 cất gậy vào trong xe ô tô. Thìn vẫn đứng trong phòng bảo vệ chửi và kẹp cổ giữ, lôi anh Đào Mạnh C ra sân UBND xã. T lao đến đấm anh Mạnh C thì được H1 cản lại, ông S1 đến can ngăn nhưng bị V ôm từ phía sau, không cho can ngăn, để T tiếp tục đánh anh Đào Mạnh C.

Khi anh Phạm Văn H2 - Trưởng Công an xã S đến thì một số người liên quan bỏ đi, còn lại T2, T1 và anh Đào Mạnh C, tất cả lên xe đến trụ sở Công an xã. Trên đường đi, T1 nhận được cuộc gọi điện thoại của N1 (quê Vũ T4) nói bị chém ở quán H3, T1 bảo T2 dừng lại ở quán H3. Tại đây, khi khi cả ba người xuống xe thì anh Đào Mạnh C bị hai, ba người đứng trước cửa quán xông lại dùng tay, chân đánh (chưa xác định được là ai). Lúc này anh H2 đi xe đến nơi và cùng anh Q2 can ngăn. T2 đẩy anh Đào Mạnh C và T1 lên xe, chở đến trụ sở Công an xã.

Bản cáo trạng số 143/CT-VKSTT ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố các bị cáo Ngô Văn N, Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T, Tăng Văn H1, Phạm Hữu D, Phạm Tiến S, Phạm Công T1 và Phạm Công T2 đã phạm vào “Tội gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn N, Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T, Tăng Văn H1, Phạm Hữu D, Phạm Tiến S, Phạm Công T1 và Phạm Công T2 đã phạm vào “Tội gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt:
    • + Đối với bị cáo Ngô Văn N: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giam 19/7/2024.
    • + Đối với các bị cáo Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51(bị cáo T áp dụng thêm khoản 2 Điều 51), các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt mỗi bị cáo 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giam 01/7/2024.
    • + Đối với các bị cáo Tăng Văn H1, Phạm Hữu D và Phạm Tiến S: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo H1 và bị cáo S được tính từ ngày bị tạm giam 01/7/2024, bị cáo D tính từ ngày bắt chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giam từ 01/7/2024 đến ngày 14/8/2024.
    • + Đối với các bị cáo Phạm Công T1 và bị cáo Phạm Công T2: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Công T1 và bị cáo Phạm Công T2 cho Ủy ban nhân dân xã S giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/11/2024, bị cáo Phạm Hữu D kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Hữu D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã tuyên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu D, sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo hướng giữ nguyên hình phạt tù nhưng sửa biện pháp chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo Phạm Hữu D được hưởng án treo.

Bị cáo Phạm Hữu D xác định bị cáo có hành vi gây rối trật tự công cộng như bản án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo không trình bày lời bào chữa về hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì về quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Hoàn cảnh gia đình bị cáo có bố đẻ bị bệnh u tuyến mật, mẹ đẻ bị u tuyến giáp, anh trai bị thiểu năng trí tuệ, bản thân bị cáo bị hỏng mắt trái; sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, theo đó bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xét xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo hứa sẽ tu dưỡng, rèn luyện và cải sửa sai phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu D gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hữu D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nhận định. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng hơn 22 giờ 30 ngày 06/10/2023, tại trục đường giao thông liên xã, khu vực trước quán H3 ở thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình xung quanh là nhà dân sinh sống và các quán dịch vụ sửa xe, gội đầu, gần Chợ Quài, xã S; do phát sinh mâu thuẫn trong khi thuê phòng hát giữa nhóm của anh Đinh Bá Q1 (khách thuê phòng hát) và nhóm thanh niên là bạn của chủ quán hát dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau. Bị cáo Ngô Văn N dùng dao chém, gây thương tích cho Nguyễn Viết D1 (gây tổn thương cơ thể 05%) và Lê Thành Đ1 (gây tổn thương cơ thể 04%). Khi biết tin D1, Đ1 bị thương, do nhầm tưởng anh Đào Mạnh Cường là người đã đánh, gây thương tích cho D1 và Đ1, các bị cáo Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T, Tăng Văn H1, Phạm Hữu D, Phạm Tiến S, Phạm Công T1 và Phạm Công T2 (bạn của D1 và Đ1) đuổi theo anh C vào trong sân Ủy ban nhân dân xã S. Anh C trốn vào trong phòng bảo vệ, các bị cáo V, T, H1, D, S, T1 và T2 cầm theo hung khí (dao, gậy, gạch) chạy, đi lại trong sân Ủy ban chửi, tìm, mục đích để đánh anh C. Sau đó các bị cáo dùng tay, chân đánh gây thương tích cho anh C tại phòng trực bảo vệ của Ủy ban (gây tổn thương cơ thể 03%); ném, phá đồ đạc trong phòng bảo vệ. Hành vi của các bị cáo diễn ra trong khoảng thời gian từ 23 giờ 43 phút đến 23 giờ 52 phút cùng ngày 06/10/2023, hành vi của các bị cáo Ngô Văn N, Vũ Thanh V, Vũ Mạnh T, Tăng Văn H1, Phạm Hữu D, Phạm Tiến S, Phạm Công T1 và Phạm Công T2 xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng, gây mất trật tự, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, đã được tuyên truyền giáo dục pháp luật về an toàn trật tự xã hội, nhận thức được việc xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện ý thức không tuân thủ pháp luật nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu D thì thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm hại đến trật tự an ninh xã hội, gây xáo trộn cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng dân cư được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của bị cáo D cùng thực hiện với vai trò thực hành, theo đó áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo D 02 năm 06 tháng là có căn cứ, đúng pháp luật phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, đánh giá vai trò của bị cáo D thì thấy, bị có D không tham gia từ đầu, không bàn bạc và không tiếp nhận ý chí của các bị cáo khác, trên đường đi tìm D1 khi thấy nhóm của V đang chửi trong sân UBND xã và nghe thấy có người nói người chém D1 đang trốn ở trong UBND xã, bị cáo nhặt được con dao ở gần cổng UBND xã (không phải do chuẩn bị từ trước) thì cầm lên và chạy vào trong sân Ủy ban nhân dân xã H4, chửi, chạy theo nhóm của V đi tìm người đã đánh anh D1 nhưng bị cáo không đánh ai, không làm hư hỏng tài sản gì. Hành vi của bị cáo D chỉ là bột phát, nhất thời nên bị cáo đồng phạm với vai trò giúp sức không đáng kể. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng; chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; hoàn cảnh gia đình bị cáo rất éo le có bố đẻ bị bệnh u tuyến mật, mẹ đẻ bị u tuyến giáp, anh trai bị thiểu năng trí tuệ, bản thân bị cáo bị hỏng mắt trái; bị cáo chủ động nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo D ra ngoài xã hội mà chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để bị cáo tự cải tạo, rèn luyện bản thân là phù hợp.

Các nội dung khác không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu D, sửa Bản án sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt tù cho bị cáo Phạm Hữu D được hưởng án treo.
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
    2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hữu D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 20/3/2025.

Giao bị cáo Phạm Hữu D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Hữu D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 20/3/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND huyện Thái Thụy,
  • Tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tội gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 38/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu D phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger