|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HNGĐ - ST Ngày: 30/6/2025 “V/v:Lã Thị Hương xin ly hôn anh Danh Đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Quý
Ông Nguyễn Bá Tuấn
Thư ký phiên toà ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh O, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, thành phố Hà Nội có Thông báo số: 09/TB-VKS ngày 09 tháng 6 năm 2025 về việc không tham gia phiên tòa xét xử vụ án HNGĐ.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh O, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 120/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 23/2025 ngày 13/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Thanh O, TP Hà Nội. giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lã Thị H, sinh năm 1990
Bị đơn: Anh Danh Đ, sinh năm 1996
Đều ĐKHKTT: thôn M, xã T, huyện T, Hà Nội.
(Tại phiên toà chị H có mặt; anh Đ vắng mặt không có ly do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu khác nguyên đơn là chị Lã Thị H trình bày: Chị và anh Danh Đ, sinh năm 1996 đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang, (chị và anh Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015) trước khi tổ chức kết hôn chị và anh Đ có được tự do tìm hiểu, là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, chị và anh Đ chung sống với tại gia đình nhà chị ở xã T, huyện T, TP Hà Nội, vợ chồng ở với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chị và anh Đ thường xuyên sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh Đ đã tự ý bỏ nhà ra ngoài làm ăn không hề quan tâm đến vợ con. Chính vì thế vợ chồng không có hạnh phúc, nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là: Cháu Danh Bảo A, sinh ngày 12/9/2015; hiện tại cháu đang ở với chị. Nếu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, chị có quan điểm xin được nuôi cháu đến khi trưởng thành, chị không yêu cầu anh Đ phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ của vợ chồng: Vợ chồng chị tự thoả thuận không đề nghị toà án xem xét giải quyết.
Bị đơn là anh Danh Đ: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh đều vắng mặt tại các phiên họp, anh Đ cũng không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tổ tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lã Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Danh Đ nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Danh Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, thôn M, xã T, huyện T, TP Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thủ tục xét xử: Quá trình giải quyết và đưa vụ án ra xét xử, anh Đồng Đ1 vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Danh Đ.
[2] Về nội dung vụ án
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn và quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Lã Thị H và anh Danh Đ đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang, (chị và anh Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015) trước khi tổ chức kết hôn anh, chị có được tự do tìm hiểu, là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, anh, chị chung sống với tại gia đình nhà chị H ở xã T, huyện T, TP Hà Nội, anh. Chị hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chị và anh thường xuyên sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh Đ đã tự ý bỏ nhà ra ngoài làm ăn không hề quan tâm đến vợ con. Chính vì thế vợ chồng không có hạnh phúc . Do hai người không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn là chị H xin ly hôn với anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị Lã Thị H và anh Danh Đ có 01 con chung: Cháu Danh Bảo A, sinh ngày 12/9/2015; hiện tại cháu đang ở với H. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại cháu Danh Bảo A đang được chị H chăm sóc nuôi dưỡng, khi ly hôn cần tiếp tục giao cho chị H nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là có căn cứ. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh Đ phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ của vợ chồng: Chị H không đề nghị toà án xem xét giải quyết. Vì thế Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này.
[3] Về án phí: Chị Lã Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Lã Thị H, cho chị Lã Thị H và anh Danh Đ được ly hôn.
-
Về con chung: Chị Lã Thị H và anh Danh Đ có 01 con chung: Cháu Danh Bảo
A, sinh ngày 12/9/2015;
Tiếp tục giao cháu Danh Bảo A, sinh ngày 12/9/2015 cho chị Lã Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành hoặc cho đến khi các bên đương sự có sự thay đổi khác;
Tạm hoãn việc trợ cấp nuôi con cho anh Danh Đ cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Danh Đ có quyền thăm hỏi, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Trường hợp cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết trong bản án này.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Lã Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai số 0058516 ngày 13/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai .
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN TIẾN DŨNG |
Bản án số 38/2025/HNGĐ - ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn (Lã Thị H - Danh Đ)
