Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 26/5/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quế.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy và bà Hà Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXX-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1997;

    Nơi đăng ký thường trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn: Anh Lê Đức T1, sinh năm 1994;

    Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang ở Đài Loan (xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Lê Đức T1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào năm 2017. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình của anh T1 tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, anh chị đã ra ở riêng tại thành phố T. Trong quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh T1 không tu chí làm ăn. Năm 2021, anh chị đã sống ly thân. Năm 2022 anh T1 đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài, chị vẫn ở Việt Nam. Hiện nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T1 không còn và đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Đức T2, sinh ngày 18/6/2018. Hiện nay cháu đang ở với mẹ đẻ của anh T1 tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng: Chị không đề nghị anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Do chị T không cung cấp được địa chỉ của anh Lê Đức T1 ở Đài Loan nên Tòa án tỉnh Thái Nguyên tiến hành lập biên bản làm việc thông qua thân nhân của anh T1. Tại biên bản làm việc ngày 25/4/2025, giữa Tòa án và bà Đặng Thị B, sinh năm 1970, là mẹ đẻ của anh T1 xác định được: “Anh T1 là con ruột của bà B, hiện đang làm việc tại thành phố C, Đài Loan. Bà thường xuyên liên hệ với anh T1 qua mạng Zalo để trao đổi thông tin nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Anh T1 đã biết việc chị T xin ly hôn anh. Anh T1 xác định anh và chị T kết hôn năm 2017 trên tinh thần tự nguyện, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Từ năm 2021 anh chị xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân. Tháng 6 năm 2021 anh T1 đi lao động tại Đài Loan. Anh đề nghị vợ chồng đoàn tụ, trường hợp chị T không đồng ý thì đề nghị giải quyết theo quy định.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lê Đức T2, sinh ngày 18/6/2018. Hiện nay cháu đang ở với mẹ đẻ của anh. Anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh ủy quyền cho mẹ đẻ là bà B nuôi dưỡng con chung cho đến khi anh trở về nước.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Anh T1 xác định không có”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T, cho chị T được ly hôn anh Lê Đức T1;

  • Về con chung: Giao cháu Lê Đức T2, sinh ngày 18/6/2018 cho chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng do các đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét;
  • Về tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
  • Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Lê Thị T là nguyên đơn và anh Lê Đức T1 là bị đơn trước khi đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan anh T1 có cùng nơi thường trú với chị T. Theo công văn số 5266/PQLNXC (Đ1) ngày 25/12/2024 của Phòng Q1 Công an tỉnh T xác định anh Lê Đức T1 đã được cấp hộ chiếu và đã xuất cảnh ngày 11/6/2022 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Do vậy, căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn chị Lê Thị T chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của anh T1 ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh T1 ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ở nước ngoài, không đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tham gia tố tụng, thân nhân của anh T1 cho biết anh T1 đang ở Đài Loan nhưng không biết được địa chỉ cụ thể, anh T1 đã biết Toà án thụ lý giải quyết việc ly hôn của anh chị nhưng không về được. Căn cứ Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T1 mặc dù không có văn bản thể hiện quan điểm của mình gửi về cho Tòa án, nhưng qua lời khai của chị T và thông qua thân nhân của anh T1, có đủ căn cứ xác định anh T1 vẫn liên hệ với gia đình, nhưng gia đình không cung cấp được địa chỉ của anh T1 tại Đài Loan cho Tòa án; Thông qua gia đình thì anh T1 có ý kiến xin xét xử vắng mặt anh. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung: Chị Lê Thị T và anh Lê Đức T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, anh chị không có tiếng nói chung, xảy ra nhiều mâu thuẫn. Đến năm 2021, anh chị đã sống ly thân. Năm 2022, anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T1 và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Lê Đức T1 có 01 con chung là cháu Lê Đức T2, sinh ngày 18/6/2018. Hiện nay cháu đang ở với mẹ đẻ của anh T1 tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Cả hai anh chị đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam, cha mẹ phải là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Chị T và T1 đều đi làm có thu nhập, chị T hiện vẫn ở Việt Nam, còn anh T1 đang ở Đài Loan. Khi cha mẹ ly hôn, cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, mới đảm bảo lợi ích của cháu T2. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Lê Đức T2 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh T1 có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu.

Các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T1 đều xác định không có. Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6]. Án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[7]. Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 37, 39, 147, Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Lê Đức T1.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Đức T2, sinh ngày 18/6/2018 cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Lê Đức T1 có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu.

    Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

  3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xem xét.
  4. Án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm theo biên lai thu số 0000255 ngày 18/02/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị Lê Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Anh Lê Đức T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • Cục THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • UBND xã B;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ vụ án; Toà GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Văn Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ - ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 38 T T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger