|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 3 năm 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên - Bà Phan Hoàng Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2025/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị Diễm H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: 4 khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1988. Nơi cư trú: 4 khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Thái Thị Diễm H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn G tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố L vào ngày 12/6/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, ông G có tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ chồng thiếu sự quan tâm lo lắng cho nhau. Do tình cảm dành cho ông G không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn ông G.
Về con chung: Bà và ông G có 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/12/2011. Bà H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn theo nguyện vọng của con, không yêu cầu ông G cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn ông Nguyễn Văn G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất lời trình bày của bà H về quan hệ hôn nhân, trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn tuy nhiên chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn. Ông mong muốn bà H tạo cơ hội hàn gắn vì còn thương vợ con.
Về con chung: Ông và bà H có 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/12/2011. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, ông yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông G. Ông G cư ngụ tại phường M, thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông G vắng mặt không có lý do, bà H không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn G.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Ông G và bà H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố L nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà H trình bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, ông G có tình cảm với người khác từ đó vợ chồng thường cự cãi, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do tình cảm dành cho ông G không còn, bà H không muốn tiếp tục tạo cơ hội hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Ông G không đồng ý ly hôn với bà H vì cho rằng mâu thuẫn trong hôn nhân là có nhưng chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn. Ông mong muốn bà H tạo cơ hội hàn gắn vì còn thương vợ con.
Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Nhưng bà H thừa nhận gia đình không có sự quan tâm, yêu thương nhau, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn. Ông G trình bày có nguyện vọng hàn gắn nhưng phiên tòa được mở lần thứ hai, ông G tiếp tục vắng mặt không có lý do là không có thiện chí đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn ông G.
[2.2]. Về con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/12/2011. Bà H và ông G đều có yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn, không yêu cầu cấp dưỡng.
Xét thấy, cháu Nguyễn Văn Đ có nguyện vọng được sống với bà H. Xét điều kiện của bà H trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung sau ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Bà H trình bày có thu nhập từ việc mua bán đủ khả năng lo cho con chung, không yêu cầu ông G cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà H phải tạo điều kiện cho ông G được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà H nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông G, bà H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông G, bà H không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
[3]. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Thái Thị Diễm H được ly hôn ông Nguyễn Văn G.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn G và bà Thái Thị Diễm H có một con chung tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/12/2011.
Bà H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Ông G không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu.
Bà H phải tạo điều kiện cho ông G được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bà H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông G, bà H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Thái Thị Diễm H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002153, ngày 04/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.
Quyền kháng cáo: Bà H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông G không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi gởi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của bà Thái Thị Diễm Hương được ly hôn ông Nguyễn Văn Gìn.