Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO THẮNG

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25 - 6 - 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thu Hương và ông Trần Quang Chương.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị Q - Sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B,tỉnh Lào Cai - (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lương Thế T - Sinh năm 1993;

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, Lào Cai - (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi Tòa án ngày 06/02/2025 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Lương Thị Q trình bầy: Chị và anh Lương Thế T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 29/5/2013, tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 6 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T thường xuyên ghen tuông vô cớ, không tu trí làm ăn, suốt ngày rượu chè say sỉn xuất phát từ đó tình cảm vợ chồng ngày một rạn nứt, do mâu thuẫn trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lương Thế T.

Về con chung: Chị Lương Thị Q xác nhận vợ chồng chị có 02 con chung, là cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 17/11/2013 và cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 30/11/2019, hiện nay các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng anh T, khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Mạnh H, để anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Bảo T3, không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Q xác nhận vợ chồng chị không có tài sản chung và không có công nợ chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lương Thế T trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định của pháp luật nhưng anh T đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án. Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng chăm sóc con chung, vì vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng đã xác định: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.

Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lương Thị Q, cho chị Lương Thị Q ly hôn anh Lương Thế T.

Xử giao cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 30/11/2019 cho chị Lương Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 17/11/2013 cho anh Lương Thế T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lương Thị Q khởi kiện xin ly hôn với anh Lương Thế T đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, chị Q và anh T đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã P, huyện B. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Q và anh Lương Thế T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T không tu trí làm ăn, thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, do mâu thuẫn trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật.

Tại phiên toà hôm nay, chị Lương Thị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Lương Thế T.

Đối với anh Lương Thế T vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định của pháp luật nhưng anh T đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án, vì vậy cần xem xét giải quyết vắng mặt anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, việc chị Lương Thị Q xin ly hôn với anh Lương Thế T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lương Thị Q anh Lương Thế T có 02 con chung là Lương Bảo T1, sinh ngày ngày 17/11/2013 và cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 30/11/2019. Tại phiên tòa hôm nay chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xét xử vắng mặt chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Mạnh H, để anh Lương Thế T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Bảo T1; hiện nay chị và anh T đều làm tự do thu nhập bình quân mỗi người khoảng 8.000.000đồng/tháng được chính quyền địa phương xác nhận. Đối với anh Lương Thế T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T đều không có văn bản trả lời.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi ý kiến của người chưa thành niên đối với cháu T1 thì cháu có nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy xét yêu cầu xin được nuôi con của chị Q là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần giao cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 30/11/2019 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 17/11/2013 cho anh Lương Thế T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của cháu T1.

Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Lương Thị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Lương Thị Q xác nhận chị và anh T không có tài sản chung, không có công nợ chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Cho chị Lương Thị Q ly hôn với anh Lương Thế T.
  2. Về con chung: Xử giao cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 30/11/2019, cho chị Lương Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục ; giao cháu Lương Bảo T1, sinh ngày 17/11/2013 cho anh Lương Thế T trục tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, chị Lương Thị Q, anh Lương Thế T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Lương Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001129 ngày 11/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Lương Thị Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND huyện Bảo Thắng (2);
  • - THADS huyện Bảo Thắng (01);
  • - UBND xã Phú Nhuận;
  • - Đương sự (02);
  • - Lưu HS, TA, VP .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lìn Thị Lài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa Lương Thị Q và Lương Thế T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger