|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-6-2025
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Bỉ.
- Ông Nguyễn Tấn Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Số nhà A, Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Thành N1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà A, Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025, Bản tự khai đề ngày 31/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày như sau:
Bà và ông Lê Thành N1 tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An ngày 13/9/2010. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng thời gian gần đây cuộc sống gia đình phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì nhận thấy vợ chồng thật sự đã không còn tình cảm với nhau, hôn nhân không thể kéo dài được nữa nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Thành N1.
Về con chung: Bà và ông N1 có 02 con chung tên Lê Phước T, sinh ngày 03/8/2011 và Lê Minh T1, sinh ngày 08/5/2015. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung.
Tại Bản trình bày ý kiến đề ngày 29/5/2025, bị đơn ông Lê Thành N1 trình bày như sau:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà N về thời gian và nơi đăng ký kết hôn. Vợ chồng thật sự đã không còn tình cảm với nhau như lời trình bày của bà N. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì ông đồng ý giao con tên Lê Minh T1, sinh ngày 08/5/2015 cho bà N nuôi dưỡng. Ông đồng ý nuôi dưỡng con chung tên Lê Phước T, sinh ngày 03/8/2011, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Ông cũng thống nhất với lời trình bày của bà N là vợ chồng không có tài sản chung và ông cam kết vợ chồng không có nợ chung.
Vụ án đã được tiến hành công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị N có mặt; bị đơn ông Lê Thành N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày tại phiên tòa như sau: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Lê Thành N1. Tuy nhiên, bà thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về nuôi con chung, do ông N1 đã trình bày ý kiến đồng ý giao con tên Lê Minh T1 sinh ngày 08/5/2015 cho bà nuôi dưỡng, ông N1 đồng ý nuôi dưỡng con chung tên Lê Phước T sinh ngày 03/8/2011 nên bà cũng thống nhất theo lời trình bày của ông N1. Bà đồng ý nuôi dưỡng con chung tên Lê Minh T1, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con và đồng ý giao con chung tên Lê Phước T cho ông N1 nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung thì bà vẫn giữ nguyên lời trình bày như trong quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Thành N1 và có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung; bị đơn hiện đang cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Long An theo xác nhận của Công an xã T, huyện T, tỉnh Long An. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Thành N1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn trong vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị N và ông Lê Thành N1, thấy rằng: Bà N và ông N1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80/2010, Quyển số 01/2009 đăng ký ngày 13/9/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông N1 được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo bà N trình bày mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa, vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm đến nhau, lời trình bày này được ông N1 thừa nhận nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn bà Phạm Thị N đối với ông Lê Thành N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Bà N và ông N1 có 02 con chung tên Lê Phước T, sinh ngày 03/8/2011 và Lê Minh T1, sinh ngày 08/5/2015. Bà N và ông N1 đã thống nhất giao cho bà Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Minh T1, sinh ngày 08/5/2015; giao cho ông Lê Thành N1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Phước T, sinh ngày 03/8/2011 và sự thỏa thuận này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T1 là muốn ở với mẹ và nguyện vọng của cháu T là muốn ở với cha nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bà N và ông N1 đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét về mức cấp dưỡng. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con hoặc cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[5] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị N và ông Lê Thành N1 đều trình bày thống nhất là vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[6.1] Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà N đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011612 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà N đã nộp xong án phí sơ thẩm.
[6.2] Ông Lê Thành N1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 96, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” đối với ông Lê Thành N1.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Lê Thành N1.
Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Minh T1, sinh ngày 08/5/2015. Ông Lê Thành N1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Phước T, sinh ngày 03/8/2011.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định của pháp luật.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí:
Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà N đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011612 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà N đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Ông Lê Thành N1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Hoàng Dung |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
