|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 3 - 2025. V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thuỷ.
Bà Chung Kim Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tú C; sinh năm 1992.
- Địa chỉ: Tổ D ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- * Bị đơn: Anh Đoàn Thanh G; sinh năm 1991.
- HKTT: SỐ E M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Các đương sự có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Tú C trình bày:
Chị và anh Đoàn Thanh G tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2013; có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn đã được UBND phường V cấp giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 19/6/2013.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có hai người con chung. Tuy nhiên thời gian về sau giữa vợ chồng phát sinh nhiều bất đồng, mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, anh G nhiều lần xúc phạm danh dự và gia đình của chị từ đó vợ chồng thường hay cãi vả kéo dài, từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt; thậm chí có lần anh G bạo lực gia đình với chị. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, nên chị Tú C làm đơn xin ly hôn và yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Tú C yêu cầu được ly hôn với anh Đoàn Thanh G.
- - Về con chung: Chị xác định vợ chồng có hai người con chung tên Đoàn Tấn P, sinh ngày 17/7/2014 và Đoàn Tấn T, sinh ngày 16/11/2018. Chị T1 Chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tú C xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T1 Chị cam kết hiện tại vợ chồng không có nợ ai; cam kết ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đối với người khác.
Tại phiên tòa, chị Tú C xác định giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Thanh G và các yêu cầu về con chung, tài sản chung và nợ chung.
* Bị đơn anh Đoàn Thanh G trình bày ý kiến:
Anh G thống nhất với lời trình bày của chị T1 Chị về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung, nợ chung. Anh thừa nhận trong lúc nóng giận có từng dùng lời lẽ xúc phạm vợ và làm ảnh hưởng đến gia đình cha mẹ vợ, nhưng anh G đã đến xin lỗi và bày tỏ nguyện vọng hàn gắn với vợ. Nay anh G xác định vẫn còn yêu thương vợ con, muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân để chăm lo cho các con trưởng thành.
Nay ý kiến của anh G đối với yêu cầu khởi kiện của chị T1 Chị như sau:
- - Về hôn nhân: Anh G không đồng ý ly hôn với Lê Thị Tú C.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Anh G xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về con chung: Anh G xác định có hai người con chung Đoàn Tấn P, sinh ngày 17/7/2014 và Đoàn Tấn T, sinh ngày 166/11/2018. Trường hợp chị T1 Chị kiên quyết xin ly hôn, anh yêu cầu được nuôi người con chung tên Đoàn Tấn T, không yêu cầu chị T1 Chị cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, anh G giữ nguyên ý kiến đã trình bày đối với các yêu cầu của chị G về quan hệ hôn nhân, tài sản chung và nợ chung. Anh G có ý kiến với yêu cầu nuôi con chung như sau trường hợp chị T1 Chị kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho chị T1 Chị nuôi dưỡng, anh không yêu cầu Toà án giải quyết cấp dưỡng trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị T1 Chị khởi kiện xin ly hôn với anh Đoàn Thanh G có hộ khẩu thường trú tại: Số E M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" và theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
[2] Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Tú C và anh Đoàn Thanh G, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Tú C và anh G kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn đã được UBND phường V cấp giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 19/6/2013, nên theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Tú C, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ vợ chồng phải dựa trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ; vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa vợ chồng chị T1 Chị và anh G phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn; nguyên nhân theo chị T1 Chị xác định do anh G thiếu quan tâm chăm sóc vợ con, thường hay cãi vả, nhiều lần xúc phạm danh dự cá nhân và gia đình chị và thậm chí là bạo lực gia đình với chị, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Tại phiên tòa, chị Tú C xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không còn tình cảm do đó chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh G.
Anh Đoàn Thanh G xác nhận trong quá trình chung sống có xảy ra cãi vả với chị G, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, nhưng anh đã nhận ra lỗi lầm, có đến xin lỗi chị T1 Chị và gia đình vợ nhưng không được tha lỗi. Anh G cũng xác định anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay.
Qua xem xét, đánh giá Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị Tú C và anh G đã đến mức trầm trọng, vợ chồng đã không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được nữa do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của chị T1 Chị là có căn cứ; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tú C, xử cho chị được ly hôn với anh Đoàn Thanh G.
[5] Xét yêu cầu của chị T1 Chị về việc nuôi con chung, Hội đồng xét xử nhận định:
Anh chị chung sống có hai người con chung tên Đoàn Tấn P, sinh ngày 17/7/2014 và Đoàn Tấn T, sinh ngày 16/11/2018.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị N xác định các con chung hiện đang sống cùng chị, do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Tú C đã thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình, đảm bảo đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp cho các con sinh sống, học tập và phát triển; đồng thời chị cũng không cản trở việc anh G thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; do đó chị T1 Chị xác định giữ nguyên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh G cũng thống nhất nếu chị T1 Chị kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho chị nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu của chị T1 Chị về việc nuôi con chung là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp nguyện vọng của con chung; do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị T1 Chị, giao Đoàn Tấn P, sinh ngày 17/7/2014 và Đoàn Tấn T, sinh ngày 16/11/2018 cho chị tiếp tục nuôi dưỡng.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Tú C không yêu cầu anh G cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tú C và anh G cùng thống nhất xác định trong quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lê Thị Tú C phải chịu án phí hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Tú C và anh Đoàn Thanh G.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung giữa chị T1 Chị và anh G là cháu Đoàn Tấn P, sinh ngày 17/7/2014 và Đoàn Tấn T, sinh ngày 16/11/2018 cho chị T1 Chị trực tiếp nuôi dưỡng. Anh G không cấp dưỡng nuôi con.
Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tú C và anh G cùng thống nhất xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Tú C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0007598 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nguyên Hưng |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tú Chị Xin ly hôn với anh Giang và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung
