Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17 – 6 - 2025

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Dương

Ông: Lê Thế Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2025/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị A - Sinh năm: 1988 (Có mặt)

Số CCCD: [...]

HKTT: Thôn T, xã C, thị xã N, Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Thôn Q, xã C, thị xã N, Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Bạch Văn H - Sinh năm: 1983 (Có mặt)

Số CCCD: [...]

HKTT: Thôn T, xã C, thị xã N, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa chị Lê Thị A trình bày như sau: Chị và anh H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T là thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/02/2012. Sauk hi kết hôn hai vợ chồng chung sống đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh H không chịu kho làm ăn, nhiều lần đánh đập chị, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được, bố mẹ hai bên cũng khguyên bảo nhiều nhưng anh H không thay đổi. Đến năm 2020, chị về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Quá trình giải quyết vụ án anh Bạch Văn H có quan điểm như sau:

Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn, như chị A trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn không như chị A trình bày. Do chị A trong quá trình đi làm công ty có phát sinh nhiều mối quan hệ không đúng đắn, toàn nói chuyện, gọi điện nhắn tin với trai, anh đã bắt gặp nhiều lần nhưng không thay đổi. Hai vợ chồng không còn niềm tin với nhau và sống ly thân ba năm nay. Nay chị A làm đơn ly hôn bản thân anh đang còn tình cảm nhưng chị A cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Chị A và anh H có ba con chung là cháu Bạch Văn N sinh ngày 28/8/2012, cháu Bạch Thị C – sinh ngày 17/10/2014 và cháu Bạch Thị Quỳnh N1 – Sinh ngày: 21/11/2016. Nay ly hôn, nguyện vọng của chị A xin được nuôi cháu Quỳnh N1 còn hai cháu đầu giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Về phía anh H xin nuôi cả ba cháu và yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi cháu 02 triệu đồng/ tháng.

Cả ba cháu đều có nguyện vọng ở với anh Bạch Văn H.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị đề nghị HĐXX giải quyết ly hôn cho chị và anh H; Về phần con chung do các cháu đều có nguyện vọng ở cùng với anh H nên chị đồng ý để anh H nuôi dưỡng cả ba cháu. Về phần cấp dưỡng hiện tại chị đi làm công nhân, có mức thu nhập hàng tháng từ 05 đến 06 triệu đồng nên chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi các cháu mỗi cháu 01 triệu đồng/ tháng.

Về phần anh H: Tại phiên tòa anh đồng ý ly hôn và anh có nguyện vọng nuôi cả ba cháu. Về cấp dưỡng nuôi con anh đồng ý với mức cấp dưỡng chị A đưa ra.

Về phần tài sản và công nợ các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị A; Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị A và anh H. Về con chung: Giao cháu Bạch Văn N sinh ngày 28/8/2012, cháu Bạch Thị C – sinh ngày 17/10/2014 và cháu Bạch Thị Quỳnh N1 – Sinh ngày: 21/11/2016 cho anh Bạch Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Chi A cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi cháu 01 triệu/ tháng, 03 cháu là 03 triệu đồng/ tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động. Chị A được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí: Buộc chị A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật và tiền án phí câp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bạch Văn H là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, về phía chị A cho rằng anh H không quan tâm đến gia đình, đánh đập chị, về phía anh H xác định do chị A có nhiều mối quan hệ không đúng đắn mới xảy ra mâu thuẫn, xác minh tại chính quyền địa phương hiện tại anh chị sống ly thân đã lâu, chi A bỏ đi khỏi địa phương còn anh H và ba cháu ở cùng nhau. HĐXX xét thấy tuy nguyên nhân mẫu thuẫn giữa hai anh chị trình bày là khác nhau nhưng đều xác định đời sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, hai vợ chồng đã sống ly thân ba năm nay, nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị giải quyết ly hôn. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của anh chị nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị A và anh H có ba con chung là cháu: Bạch Văn N sinh ngày 28/8/2012, cháu Bạch Thị C – sinh ngày 17/10/2014 và cháu Bạch Thị Quỳnh N1 – Sinh ngày: 21/11/2016. Nay ly hôn do cả ba cháu đều có nguyện vọng ở cùng anh H nên chị A đồng ý giao ca ba cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi cháu là 01 triệu/ tháng, 03 cháu là 03 triệu/ tháng.

Về phía anh H có nguyện vọng nuôi cả ba cháu nên đồng ý với quan điểm của chị A.

Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự và của các cháu nên HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ giao cả ba cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi cháu là 01 triệu/ tháng, 03 cháu là 03 triệu/ tháng.. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu trưởng thành và có khả năng lao động.

Chị A được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị A lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh H được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị A.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc chị A1 nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật và nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 55, khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Anh .

1. Về hôn nhân:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị A và anh Bạch Văn H.

2.Về con chung:

Chị A và anh H có ba con chung là cháu: Bạch Văn N sinh ngày 28/8/2012, cháu Bạch Thị C – sinh ngày 17/10/2014 và cháu Bạch Thị Quỳnh N1 – Sinh ngày: 21/11/2016. Nay ly hôn giao cả ba cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi cháu là 01 triệu/ tháng, 03 cháu là 03 triệu/ tháng.. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu trưởng thành và có khả năng lao động.

Chị A được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị A lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh H được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị A.

3. Về tài sản và công nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

4. Về án phí:

Buộc chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005947, ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị A còn phải thi hành 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND Các Sơn, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị và anh H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T là thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/02/2012. Sauk hi kết hôn hai vợ chồng chung sống đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh H không chịu khó làm ăn, nhiều lần đánh đập chị, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được, bố mẹ hai bên cũng khguyên bảo nhiều nhưng anh H không thay đổi. Đến năm 2020, chị về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger