TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12/12/2025
V/v Tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, bà Đinh Thị Hân
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký, Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông; Sầm Mạnh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2025/TLST- HNGĐ, ngày 13/10/2025, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXX-ST, ngày 13/11/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị; Lê Thị N, sinh ngày: 10/02/2004. Số CC: 038304018298. Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh; Bùi Văn N1, sinh ngày 14/07/2002; Số CCCD: [...]. Địa chỉ: Xóm M, xã B (xã T, huyện T cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, Bản tự khai và ý kiến trình bày tại phiên toà của nguyên đơn là chị Lê Thị N trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị N kết hôn với anh Bùi Văn N1 vào ngày 21 tháng 07 năm 2023 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và có đăng ký kết hôn UBND xã T, huyện T cũ; nay là xã B, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn xong thì hai vợ chồng sống tại xã ở nhà nội ở xóm M, xã T (sau đó gọi là xã M ) cùng với ông Bùi Văn H, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị A, sinh năm 1979. Tình cảm vợ chồng sống hạnh phúc bình thường, đến tháng 02 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau; nên hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Lê Thị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên xin được ly hôn anh Bùi Văn N1.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Bùi Thị Diệu N2, sinh ngày 13/01/2024. Ly hôn chị N xin được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài các ý kiến đã trình bày ra chị Lê Thị N không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Ý kiến của bị đơn là anh Bùi Văn N1:
- Về hôn nhân: Anh Bùi Văn N1 kết hôn với chị Lê Thị N vào ngày 21 tháng 07 năm 2023 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và có đăng ký kết hôn UBND xã T, huyện T cũ; nay là xã B, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn xong thì hai vợ chồng sống ở nhà nội ở xóm M, xã T (sau đó sát nhập gọi là xã M). Tình cảm vợ chồng sống hạnh phúc bình thường, đến tháng 02 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là sau khi sinh con được 01 tháng 20 ngày, thì chị Lê Thị N đưa con ra nhà mẹ đẻ anh Thanh H1 chơi khoảng 01 tháng, anh ra nhà ngoại để xin đưa chị N về nhà ở huyện T cũ, thì chị N không về. Nay chị Lê Thị N làm đơn xin ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng đang còn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi con.
Vợ chồng chưa đến nỗi mất hết tình cảm, chủ yếu là do 02 bên cha mẹ nội ngoại, nên vợ chồng mới mất tình cảm; cho nên nếu thật sự chị N nhất quyết xin ly hôn, thì anh cũng sẵn sàng nhất trí ly hôn, để giải phóng cho chị N.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con tên là Bùi Thị Diệu N2, sinh ngày 13/01/2024. Hiện tại con đang ở cùng với chị Lê Thị N. Nguyện vọng của anh là muốn vợ chồng đoàn tụ; còn nếu phải ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ: Anh N1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài các ý kiến đã trình bày ra anh Bùi Văn N1 không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Bùi Văn N1. Về con chung; giao cháu Bùi Thị Diệu N2, sinh ngày 13/01/2024 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh Bùi Văn N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng khoảng 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng; về tài sản chung và nợ không xem xét; các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp về ly hôn, trách nhiệm nuôi con giữa chị Lê Thị N và anh Bùi Văn N1, là tranh chấp về hôn và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân khu vực 5 – Nghệ An, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nguyên đơn và bị đơn để công khai chứng cứ và hòa giải; nguyên đơn và bị đơn có mặt. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn cũng đã được triệu tập hợp lệ; nguyên đơn có mặt, còn bị đơn vắng mặt không có ý kiến gì cả; đây là phiên toà được mở lần thứ hai, cho nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định tại Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Cuộc hôn nhân giữa chị Lê Thị N và anh Bùi Văn N1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và đang ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T cũ; nay là xã B, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn xong thì hai vợ chồng sống ở nhà nội ở xóm M, xã T (sau đó sát nhập gọi là xã M). Tình cảm vợ chồng sống hạnh phúc bình thường, đến tháng 02 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không đồng nhất quan điểm sống; nên hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, chị Lê Thị N thì nhất quyết ly hôn, anh Bùi Văn N1 thì xin được đoàn tụ; tại phiên toà hôm nay chị Lê Thị N vẫn nhất quyết xin ly hôn anh Bùi Văn N1. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Lê Thị N, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên chấp nhận cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn N1.
[3] Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung tên là Bùi Thị Diệu N2, sinh ngày 13/01/2024.
Ly hôn chị Lê Thị N và anh Bùi Văn N1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung; xét thấy nguyện vọng được nuôi con của hai vợ chồng là hoàn toàn chính đáng, thể hiện tình cảm của người làm cha, làm mẹ đối với con cái. Song xét thấy để đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con khôn lớn trên tất cả các mặt, cũng như thực tế hiện nay chị Lê Thị N đang trực tiếp nuôi con khi vợ chồng ly thân đến nay; hơn nữa cháu Bùi Thị Diệu N2 đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ; cho nên cần giao cháu Bùi Thị Diệu N2 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng và anh Bùi Văn N1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng khoảng 1.500.000 đồng, là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về chia tài sản chung và nợ: Các đương sự không có yêu cầu, nên Toà án không xem xét.
[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên: Các ý kiến của Kiểm sát viên là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí ly hôn; còn anh Bùi Văn N1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; 39; 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Bùi Văn N1.
2. Về trách nhiệm nuôi con:
2.1. Ly hôn giao cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Diệu N2, sinh ngày 13/01/2024.
2.2. Anh Bùi Văn N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Lê Thị N, mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng), kể từ tháng 12/2025 cho đến khi cháu Bùi Thị Diệu N2 thành niên đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2.3. Anh Bùi Văn N1, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2.4. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
2.5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về chia tài sản chung và nợ: Toà án không xem xét.
4. Về án phí:
Chị Lê Thị N phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn. Nhưng chị Lê Thị N được trừ đi 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) có tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001192, ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự Nghệ An.
Anh Bùi Văn N1 phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.
Nơi nhận :
- - TAND tỉnh Nghệ An
- - VKSND khu vực 5 – Nghệ An
- - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An
- - Các đương sự
- - UBND xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An
- - Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trọng Sơn
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị N và anh N
