|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST Ngày 07-11-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa anh Liêm và chị Hường” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng; Ông Lưu Xuân Tiến
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.
Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST-HNGĐ 27 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Trần Bá L, sinh ngày 07/02/1982; Căn cước công dân số: [...], do cục C về TTXH cấp ngày 16/8/2021.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 17/02/1985; Căn cước công dân số: [...], do cục C về TTXH cấp ngày 19/7/2022.
Cùng nơi thường trú: Xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa: Anh Liêm, chị H vắng mặt (đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2025, bản tự khai ngày 07 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn anh Trần Bá L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H có đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 11 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Y, tỉnh Thanh Hóa). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường hạnh phúc, nhưng từ tháng 01 năm 2025 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm giữa anh với chị H không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Anh đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với chị H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Đức V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2007; Trần Đức Q, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2014, hiện đang ở cùng với anh L, chị H, sau khi ly hôn anh L nhận có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc đối với cháu Trần Đức V (cháu V hiện đang học đại học) và nhất trí để chị H nuôi con chung Trần Đức Q và nhận trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị H mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi con chung lao động tự lập được.
- Về tài sản chung, công nợ: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 08 tháng 10 năm 2025, bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày: Thời gian kết hôn đúng như anh Trần Bá L khai.
- Về tình cảm chị xác định giữa chị và anh L bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng sống không có hạnh phúc, anh L không quan tâm gì đến gia đình, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2025 đến nay. Nay anh L làm đơn ly hôn, chị nhận thấy tình cảm giữa chị và anh L không còn, không có khả năng chung sống cùng nhau được nữa, nhưng anh L phải lo việc cho con lớn xong thì chị mới đồng ý giải quyết ly hôn với anh L.
- Về con chung: Đúng như anh L khai. Sau ly hôn chị nhận trách nhiệm được nuôi cả 02 con chung và nhất trí đề nghị anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị mỗi tháng 5.000.000 đồng.
- Về tài sản chung, công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt anh L và chị H là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 11 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Y, tỉnh Thanh Hóa), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Quá trình chung sống giữa anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, mặc dù chị H hiện tại chưa đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ, vì vậy nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Bá L để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: HĐXX xét thấy; Tại phiên tòa anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nhưng đều có lời khai trình bày về con chung: Anh Trần Bá L nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cháu Trần Đức V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2007; Chị H yêu cầu được nuôi cả hai con chung là cháu Trần Đức V và Trần Đức Q, hiện cháu V đang học đại học, cháu Q đang ở cùng với vợ chồng tại nhà bố mẹ anh L và nhất trí quan điểm anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị mỗi tháng 5.000.000 đồng, hơn nữa con chung có nguyện vọng được ở với chị H. HĐXX nhận thấy, hiện tại cháu V đang học đại học, điều kiện công việc của anh L, chị H đều có thu nhập ổn định, do vậy để đảm bảo điều kiện sống của con chung cũng như sự nhất trí của anh L về việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung nên giao cháu Trần Đức V cho anh L nuôi dưỡng, chăm sóc; tiếp tục giao cháu Trần Đức Q cho chị H nuôi dưỡng, anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị H mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ tháng 11/2025 đến khi con chung lao động tự lập được là phù hợp với các Điều 71; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về tài sản chung, công nợ: Anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
[5] Về án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trần Bá L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H.
2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Trần Đức V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2007 cho anh Trần Bá L nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Trần Đức Q, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được.
Chấp nhận sự tự nguyện của anh Trần Bá L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị H mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ tháng 11/2025 đến khi con chung lao động tự lập được.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí:
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Trần Bá L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai số 0001134 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, anh Trần Bá L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trần Bá L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Bá L và chị Nguyễn Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Bá L - Nguyễn Thị Thu H
