|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 6 - 2025
V/v ly hôn giữa chị Liễu và anh Hoàng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Diêm Đăng Hoạt.
2. Ông Giáp Hồng Thanh.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Vân Lý, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2025/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2025/QĐXX-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thanh L, sinh năm 1992, nơi thường trú: Thôn L, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Thế H, sinh năm 1991, nơi thường trú: Thôn L, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam Công an tỉnh Q, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Đỗ Thanh L trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Thế H ngày 01/12/2011, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã Q), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh H, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh khoảng tháng 05/2016, nguyên nhân do anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác, chị và gia đình có khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi, dẫn đến vợ chồng ít nói chuyện, không quan tâm và tình cảm lạnh nhạt dần, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ngày 28/8/2018 anh H bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q về tội mua bán trái phép chất ma tuý và đã bị kết án tử hình, cùng thời điểm đó vợ chồng sống ly thân không có quan hệ tình cảm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, chị giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh H được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Trần Thị Thùy T, sinh ngày 28/11/2012 và Trần Thế Hoàng A, sinh ngày 25/10/2017, chị nuôi dưỡng con chung từ tháng 8/2018 đến nay ổn định, đảm bảo cho các con chung ăn học đầy đủ.
Vợ chồng ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng, không đề nghị Tòa án giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh H nhận nuôi dưỡng một con chung chị không nhất trí, lý do anh H đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q chờ thi hành án tử hình nên không khả năng nuôi con. Bố mẹ anh H sức khoẻ yếu, không đảm bảo nuôi cháu ăn học.
Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Tại bản tự khai ngày 15/4/2025 anh Trần Thế H trình bày: Anh kết hôn với chị Đỗ Thanh L ngày 31/12/2011 trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã Q), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau thôn L, xã Đ (nay là xã Q), huyện T. Nay chị L xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Trần Thị Thùy T, sinh ngày 28/11/2012 và Trần Thế Hoàng A, sinh ngày 25/10/2017. Vợ chồng ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng 01 con chung, nếu được anh uỷ quyền cho bố mẹ anh nuôi con đến lúc trưởng thành, anh xác định bố mẹ đủ điều kiện nuôi con anh.
Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Tại biên bản làm việc cùng ngày 06/5/2025 cháu Trần Thị Thùy T và cháu Trần Thế Hoàng A cùng trình bày: Các cháu là con của mẹ Đỗ Thanh L và bố Trần Thế H, các cháu đang ở cùng mẹ và ông bà ngoại. Các cháu đều xác định bố không ở cùng mẹ con cháu, trong trường hợp bố mẹ ly hôn, các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ sẽ đảm bảo cho việc ăn học của các cháu.
Tại phiên toà chị Đỗ Thanh L vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Thế H được ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng 02 con chung, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, tài sản và công nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Thế H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn chị Đỗ Thanh L và bị đơn anh Trần Thế H thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 - Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thanh L và anh Trần Thế H được ly hôn.
Về con chung: Giao chị Đỗ Thanh L nuôi dưỡng hai con chung là Trần Thị Thùy T, sinh ngày 28/11/2012 và Trần Thế Hoàng A, sinh ngày 25/10/2017, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thanh L phải chịu án phí ly hôn, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Đỗ Thanh L và bị đơn anh Trần Thế H có địa chỉ cư trú tại thôn L, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xác định quan hệ pháp luật: Nguyên đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung, bị đơn nhất trí ly hôn và nhận nuôi dưỡng con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.
-
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị Đỗ Thanh L, bị đơn anh Trần Thế H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:
Chị Đỗ Thanh L và anh Trần Thế H kết hôn ngày 01/12/2011 trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã Q), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh H, tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc đến nay đã có 02 con chung do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chị L và anh H đã sống ly thân và không còn quan hệ tình cảm từ năm 2018, hai bên không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là phải yêu thương, tôn trọng và chung sống cùng nhau theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Đỗ Thanh L xin ly hôn, anh Trần Thế H đồng ý nhưng không thể có mặt tham gia giải quyết vụ án, do vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, cho chị L và anh H được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Chị Đỗ Thanh L và anh Trần Thế H có hai con chung là Trần Thị Thùy T, sinh ngày 28/11/2012 và Trần Thế Hoàng A, sinh ngày 25/10/2017, chị L đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh H có nguyện vọng được nuôi dưỡng một con chung, đề nghị giao con chung cho bố mẹ anh nuôi dưỡng. Xét thấy 02 con chung của chị L và anh H do chị L nuôi dưỡng ổn định từ tháng 8/2018, cháu T và cháu A đều có nguyện vọng giao cho mẹ nuôi dưỡng, mặt khác anh H đang chấp hành án với hình phạt tử hình nên không có khả năng điều kiện nuôi con. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con trẻ trong việc giao trực tiếp người nuôi dưỡng, nhận thấy cần tiếp tục giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Đỗ Thanh L và anh Trần Thế H đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thanh L phải chịu án phí theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 19, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thanh L và anh Trần Thế H được ly hôn.
-
Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng Trần Thị Thùy T, sinh ngày 28/11/2012 và Trần Thế Hoàng A, sinh ngày 25/10/2017.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Trần Thế H có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh Hoàng Q thăm nom con.
- Về tài sản; công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thanh L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003640 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thanh L và anh Trần Thế H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H bị tuyên án tử hình về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Nay chị xin được ly hôn và nuôi dưỡng 02 con chung, anh H đồng ý ly hôn.
