TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2025/HN-ST
Ngày: 15/4/2025
“V/v ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Phạm Thị Yến Linh
là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2025/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Ông Trần Văn S có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 21/3/2025.
Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bà Lê Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 21/3/2025.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2025 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Văn S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị N cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/7/2014. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến tháng 6 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống không hòa hợp dẫn đến cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Ông và bà N sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Nay, ông thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn được với bà N nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị N.
- Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà N có một con chung tên Trần Lê L, sinh ngày 02/9/1998, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 21/3/2025, bị đơn bà Lê Thị N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn S cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/7/2014. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến tháng 6 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống không hòa hợp dẫn đến cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Bà và ông S sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Nay, ông S xin ly hôn thì bà đồng ý.
- Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà N có một con chung tên Trần Lê L, sinh ngày 02/9/1998, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Văn S, bị đơn bà Lê Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn S, bà Lê Thị N.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn S và bà Lê Thị N kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm và vợ chồng ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không hàn gắn được tình cảm. Ông S vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với bà N. Bà N đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông S. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa ông S và bà N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của ông S đối với bà N là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3] Về con chung: Quá trình chung sống, ông Trần Văn S và bà Lê Thị N có một người con chung tên Trần Lê L, sinh ngày 02/9/1998, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- [4] Về tài sản chung; nợ chung: Ông Trần Văn S và bà Lê Thị N khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- [5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Trần Văn S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn S đối với bà Lê Thị N. Cho ông Trần Văn S được ly hôn với bà Lê Thị N.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Lê L, sinh ngày 02/9/1998, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung; nợ chung: Ông Trần Văn S và bà Lê Thị N khai thống nhất không có, nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Văn S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009125 ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Vậy, ông Trần Văn S đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Ông Trần Văn S, bà Lê Thị N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Ba Tri; - Chi cục THADS huyện Ba Tri; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 38/2025/HN-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 38/2025/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn S đối với bà Lê Thị N. Cho ông Trần Văn S được ly hôn với bà Lê Thị N. 2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Lê L, sinh ngày 02/9/1998, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. 3. Về tài sản chung; nợ chung: Ông Trần Văn S và bà Lê Thị N khai thống nhất không có, nên không xét đến. 4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Văn S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009125 ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Vậy, ông Trần Văn S đã nộp đủ. Quyền kháng cáo của đương sự.
