|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 38/2025/HC-ST Ngày: 14-3-2025 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Văn Sáng
- Bà Lê Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 06/2025/TLST-HC ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HC ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị Mộng H, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 21/12/2024).
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Địa chỉ: KDC B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Công T1 – Giám đốc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh Văn phòng Đ
- Ủy ban nhân dân thành phố P
- Bà Võ Thị Thu T4, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Số C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc.
Địa chỉ: Số D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T3 – Chủ tịch
Địa chỉ: Khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Võ Thị Thu T4: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 10/02/2025).
Tại phiên tòa, các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Lê Thị Mộng H trình bày:
Bà Lê Thị Mộng H nhận chuyển nhượng thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, diện tích 103m², đất ở nông thôn, toạ lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CC 797762 (số vào sổ cấp GCN: CS 03017) ngày 06/4/2016.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên được Văn phòng C quyển số 12/2024TP/CC-SCC-HĐGD ngày 16/12/2024.
Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đầy đủ các điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng theo quy định pháp luật.
Đồng thời, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã tuân thủ đầy đủ các quy định về hình thức và thủ tục quy định.
Sau khi ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà H đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa Chi nhánh Văn phòng Đ để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động sang tên thửa đất nêu trên.
Ngày 20/12/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H với lý do phần diện tích đất ở tại đô thị có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 của UBND
3
thành phố P nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Nay bà Lê Thị Mộng H yêu cầu Toà án giải quyết:
- Huỷ Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mộng H;
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Mộng H.
* Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại Văn bản số 272/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 12/02/2025 như sau:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thống nhất với nội dung văn bản số 745/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 07/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Đồng thời không bổ sung tài liệu nào khác ngoài tài liệu mà Chi nhánh cung cấp và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày tại Văn bản số 745/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 07/02/2025 như sau:
Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng của bà Lê Thị Mộng H, biên nhận số 2243/BPTNTKQ ngày 17/12/2024.
Thửa đất bà Lê Thị Mộng H đăng ký chuyển quyền sử dụng thuộc thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, diện tích 103m², đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận số CC 797762 cấp ngày 06/4/2016. Tuy nhiên qua kiểm tra, thửa đất ở tại nông thôn của bà Lê Thị Mộng H có một phần diện tích có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015) nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch là đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT, về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: “...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kế quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T.”
Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho
4
phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhận tham mưu, giải quyết trước đây. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Lê Thị Mộng H được biết và cùng phối hợp thực hiện.
Từ vướng mắc trên, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mộng H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày tại Văn bản số 1071/UBND-KT ngày 19/02/2025:
Thửa đất số 208, tờ bản đồ số 11, diện tích 872m², gồm: 823,6m² đất ở và 48,4m² đất chuyên trồng lúa nước, tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc được UBND thành phố P ban hành Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 về việc cho phép bà Nguyễn Thị N chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 823,6m² từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở tại nông thôn, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 383625 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/9/2015 cho bà Nguyễn Thị N.
Ngày 10/12/2015, Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Đỗ Hoa .
Ngày 22/01/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CA 298170 tại thửa đất số 450 (được tách từ thửa đất số 208 nêu trên), tờ bản đồ số 11, diện tích 103m², thôn X, xã P, thành phố P cho ông Đỗ Hoa .
Ngày 07/3/2016, ông Đỗ H1 và bà Nguyễn Thị L (vợ ông H1) chuyển nhượng cho bà Võ Thị Thu T4 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng Đ chứng thực theo số công chứng 791, quyển số 01/2016TP/CC-SCC và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CC 797762 đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, thôn X, xã P, thành phố P, diện tích 103m² đất ở tại nông thôn vào ngày 06/4/2016.
Bà Lê Thị Mộng H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Võ Thị Thu T4 đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, diện tích 103m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CC 797762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/4/2016.
Qua rà soát hồ sơ, thì thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CC 797762 có nguồn gốc được UBND thành phố P ban hành Quyết định 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 cho phép bà Nguyễn Thị N được chuyển mục
5
đích sử dụng đất với diện tích 823,6m² từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở tại nông thôn nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Tại Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 nêu trên, thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 14/01/2015.
Căn cứ Trích lục bản đồ địa chính thửa đất: Số thứ tự thửa đất 241, tờ bản đồ số 04 (trích từ thửa 208, tờ bản đồ 11 (212452-6) xã P – Giấy chứng nhận QSDĐ số AC 835271 của bà Nguyễn Thị N được cấp ngày 08/8/2005) kèm theo tại Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 do Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P ngày 26/6/2015 đối chiếu với các quy hoạch như sau:
- Căn cứ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phần lớn thuộc quy hoạch đất phi nông nghiệp và phần nhỏ thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
- Căn cứ Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 14/01/2015 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phần lớn thuộc quy hoạch đất ở tại nông thôn và phần nhỏ thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
Hiện nay, UBND thành phố P chưa thu hồi và huỷ Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 nêu trên.
Căn cứ Điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép bà Nguyễn Thị N chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 thì không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và phần lớn phù hợp với Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 14/01/2015.
Ngày 20/12/2024, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mộng H. Đối với nội dung mà bà Lê Thị Mộng H khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 nêu trên và buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định
6
pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Mộng H nêu trên thì không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
1. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mộng H:
- - Huỷ Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mộng H;
- - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Mộng H.
3. Về án phí: Buộc đương sự chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quyền khởi kiện: Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên bà Lê Thị Mộng H đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị Mộng H nên bà H có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà H yêu cầu hủy Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 là Quyết định hành chính bị khởi kiện nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” thuộc thẩm
7
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Xác định người bị khởi kiện: Tại điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định 102/2024/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật đất đai 2024 thì Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện chức năng nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, là đơn vị trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
Hiện nay chi nhánh Văn phòng Đ chưa hoạch toán độc lập. Do đó, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính là phù hợp.
[1.4] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, đại diện của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, đại diện Chi nhánh Văn phòng Đ, đại diện Ủy ban nhân dân thành phố P đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này như đề nghị của Kiểm sát viên theo quy định tại khoản 2 Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 01/7/2015 bà Nguyễn Thị N được Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 về việc cho phép bà Nguyễn Thị N chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 823,6m² từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở tại nông thôn. Bà Nguyễn Thị N đã được Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 383625 ngày 09/9/2015 đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 11, diện tích 872 m², trong đó có gồm: 823,6m² đất ở và 48,4m² đất chuyên trồng lúa nước, tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
[2.2] Ngày 10/12/2015, Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Đỗ Hoa .
[2.3] Ngày 22/01/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CA 298170 tại thửa đất số 450 (được tách từ thửa đất số 208 nêu trên), tờ bản đồ số 11, diện tích 103m², thôn X, xã P, thành phố P cho ông Đỗ Hoa .
[2.4] Ngày 07/3/2016, ông Đỗ H1 và bà Nguyễn Thị L (vợ ông H1) chuyển nhượng cho bà Võ Thị Thu T4 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng Đ chứng thực theo số công chứng 791, quyển số 01/2016TP/CC-SCC và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CC 797762 đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, thôn X, xã P, thành phố P, diện tích 103m² đất ở tại nông thôn vào ngày 06/4/2016.
[2.5] Bà Lê Thị Mộng H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Võ Thị Thu T4 đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, diện tích 103m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P theo Giấy chứng
8
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CC 797762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/4/2016 thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng theo quy định của pháp luật.
Sau đó bà Lê Thị Mộng H nộp hồ sơ đăng ký biến động sang tên bà H. Đến ngày 20/12/2024 Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mộng H vì cho rằng qua kiểm tra, thửa đất ở tại nông thôn của bà Lê Thị Mộng H có một phần diện tích có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015) nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch là đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ngày 22/12/2024 bà Lê Thị Mộng H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án. Vụ án còn nằm trong thời hạn khởi kiện.
[2.6] Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- - Về thẩm quyền: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 131 Luật đất đai 2024; Điều 21 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai.
- - Về nội dung của văn bản:
Việc bà Lê Thị Mộng H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Võ Thị Thu T4 đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, diện tích 103,0m² là đúng quy định tại khoản 5 Điều 23; 27; 28; 37 và Điều 45 Luật đất đai 2024. Bà Lê Thị Mộng H2 đã thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động người sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Văn bản số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 thông báo về việc hoàn trả hồ sơ của bà H với lý do căn cứ vào Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh và chờ ý kiến chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền, mà không đưa ra được căn cứ pháp lý nào khác là trái quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H.
Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P cho phép bà Nguyễn Thị N chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 823,6m² từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở tại nông thôn và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 383625 ngày
9
09/9/2015. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nà Năm đã chuyển nhượng một phần quyền sử dung đất thổ cư và đã được Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý biến động chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất ngày 10/12/2015 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi 2 lần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thành số CA 298170 ngày 22/01/2016 và số CC797762 ngày 06/4/2016 đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 11, diện tích 103,0m² đất ở tại nông thôn.
Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án không có văn bản nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P là không đúng quy định của pháp luật và thu hồi, hủy bỏ quyết định này. Tại Văn bản số 1071 ngày 19/02/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố P cũng xác nhận hiện nay Ủy ban nhân dân thành phố P chưa thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 01/7/2015. Thửa đất này cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan có thẩm quyền nên vẫn có giá trị pháp lý. Ngoài ra, việc đăng ký biến động của bà Lê Thị Mộng H chỉ là để thay đổi tên người chủ sử dụng đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.
Căn cứ các Điều 21, Điều 22, Điều 23, 37 Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai; căn cứ Điều 131; điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 thì bà Lê Thị Mộng H được quyền đăng ký biến động đối với đất nhận chuyển nhượng tại Chi nhánh Văn phòng Đ. Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
[2.6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc trả hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Văn bản số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 là không đúng quy định của pháp luật nên bà Lê Thị Mộng H yêu cầu hủy Văn bản số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 là có căn cứ, như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mộng H được chấp nhận nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà Lê Thị Mộng H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào:
- - Khoản 1, 2, 9 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản
10
- 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 157; Điều 158 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;
- - Khoản 1 Điều 45; Điều 131; điểm a khoản 3 Điều 133 của Luật Đất đai năm 2024;
- - Điểm c khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đất đai;
- - Điều 21; 22; 23; 37 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/01/2024 của Chính phủ Quy định về điều tra cơ bản đất đai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai;
- - Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mộng H
- - Huỷ Thông báo số 1968/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 20/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mộng H;
- - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Mộng H.
[3] Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà Lê Thị Mộng H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thị Mộng H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000539 ngày 03/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
11
12
Bản án số 38/2025/HC-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 38/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Mộng H "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
