Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HC-ST

Ngày 13-6-2025

V/v huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trung và bà Trần Thị Phương Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 133/2024/TLST-HC ngày 27 tháng 11 năm 2024 về “Khiếu kiện huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HC ngày 20-5-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/QĐST-HC ngày 06-6-2025, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Trần Ngọc Đ; địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ; địa chỉ: Thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
  3. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Công D; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ - Đề nghị xét xử vắng mặt.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L; địa chỉ: H H, phường D, quận T, thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
    2. Bà Đào Thị Mỹ D1 (vợ ông Trần Ngọc Đ); địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện ngày 09-10-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Trần Ngọc Đ trình bày: Năm 1995 ông Trần Ngọc Đ nhận chuyển nhượng của ông Phan Bá T1 diện tích đất khoảng 02ha tại thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Từ năm 1995 đến nay gia đình ông Đ sinh sống, canh tác, sử dụng đất ổn định, không tranh chấp, được ghi nhận là thửa đất số 114, tờ bản đồ số 55 xã Đ. Thửa đất có tứ cận: Phía trước giáp đường nhựa liên xã, phía sau giáp sình, một bên giáp đất ông Q; một bên giáp đất ông N. Năm 2024 ông Đ tiến hành các thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thì được địa chính xã Đ cho biết thửa đất số 114, tờ bản đồ số 05 gia đình ông Đ đang sử dụng bị chồng lên GCNQSDĐ số BC828021 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đắk R'lấp cấp ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34, diện tích 14.380m², tọa lạc tại thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ GCNQSDĐ số BC828021 đứng tên ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L để ông Đ được làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ.

2. Người bị kiện UBND huyện Đ trình bày: Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ ghi nhận: Ngày 30-11-2004 UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số Q729208 cho ông Trần Ngọc Đ đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34, diện tích 14.380m², tọa lạc tại thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 21-10-2005 UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số AD060267 cho bà Lưu Thị T2 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 (nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Trần Ngọc Đ). Ngày 01-11-2010 UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BC828021 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 (nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ bà Lưu Thị T2). Về trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ số BC828021 ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L là đúng quy định pháp luật. Do đó, UBND huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông giải quyết theo quy định pháp luật.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên trình bày:

3.1. Bà Đào Thị Mỹ D1 (vợ ông Trần Ngọc Đ): Thống nhất theo ý kiến của ông Đ.

3.1. Ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L: Không xác minh được nhân thân, lai lịch và địa chỉ hiện nay.

Các đương sự có đơn vắng mặt tại phiên tòa, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến: Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 và 3 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Năm 2024 ông Trần Ngọc Đ biết được GCNQSDĐ số BC828021 do UBND huyện Đ cấp ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L. Ngày 09-10-2024 ông Đ khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BC828021 là còn thời hiệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[1.2]. Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

[1.3]. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L: Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20-10-2010 giữa bà Lưu Thị T2 và ông Hoàng Văn H với ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L, ghi nhận: Ông T và bà L có địa chỉ tại số H, phường D, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả xác minh tại Công an phường D2, quận T xác định ông T và bà L không đăng ký thường trú, tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ số H, phường D, quận T, do đó Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo các quy định của Luật Tố tụng hành chính.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ thể hiện: Ngày 30-11-2004 UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số Q729208 cho ông Trần Ngọc Đ đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34, diện tích 14.380m², tọa lạc tại thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 21-10-2005 UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số AD060267 cho bà Lưu Thị T2 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 (nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Trần Ngọc Đ). Ngày 01-11-2010 UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BC828021 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 (nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ bà Lưu Thị T2). Tuy nhiên, ông Đ trình bày không thực hiện thủ tục xin cấp GCNQSDĐ số Q729208 và không chuyển nhượng cho bà Lưu Thị Thu T2 thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 nêu trên.

[2.2]. Tại Kết luận giám định số 202/KL-KTHS ngày 19-5-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, xác định: Chữ ký và chữ viết mang tên “Trần Ngọc Đ” trong Đơn xin đăng ký cấp GCNQSDĐ ngày 10-6-2004 và Hợp đồng chuyển nhượng ngày 07-9-2005 giữa ông Trần Ngọc Đ với bà Lưu Thị T2 không phải là của ông Trần Ngọc Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận lời trình bày của ông Đ là có căn cứ và việc cấp GCNQSDĐ số Q729208 cho ông Trần Ngọc Đ, GCNQSDĐ số AD060267 cho bà Lưu Thị T2 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 là không đúng pháp luật, dẫn đến GCNQSDĐ số BC828021 do UBND huyện Đ cấp ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L (trên cơ sở nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lưu Thị T2) cũng không đúng pháp luật.

[2.3]. Đồng thời, tại Đơn xin xác nhận ngày 16-01-2024 của ông Trần Ngọc Đ có xác nhận của Ban tự quản thôn 6 và UBND xã Đ; Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25-12-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xác định: Từ năm 1995 đến nay gia đình ông Đ sử dụng đất ổn định, liên tục, có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với các hộ liền kề, đã làm nhà gỗ xây lửng, xây chuồng heo, đào ao nước, trồng cà phê và tiêu trên đất, tứ cận thửa đất cụ thể: Phía Đông giáp đất ông Q; phía Tây giáp đất ông Phan Văn T4; phía Nam giáp đường nhựa; phía Bắc giáp sình. Mặt khác, Kết quả xác minh và Sơ đồ lồng ghép ngày 24-02-2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, ghi nhận: Thửa đất ông Đ sử dụng là thửa số 114 và thửa số 91 tờ bản đồ số 55 bị chồng lấn GCNQSDĐ số BC828021 do UBND huyện Đ cấp ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34 xã Đ.

[2.4]. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Đ về hủy GCNQSDĐ số BC828021 do UBND huyện Đ cấp ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L; đồng thời căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính, buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Trần Ngọc Đ theo quy định pháp luật.

[2.5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định: Ông Trần Ngọc Đ tự nguyện chịu số tiền 4.600.000đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và số tiền 8.000.000₫ chi phí giám định chữ ký, chữ viết, đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

[4]. Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Đ được chấp nhận nên người bị kiện UBND huyện Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; trả cho ông Trần Ngọc Đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 và 3 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Đ:

  1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC828021 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 01-11-2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Trần Mai L đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 34, diện tích 14.380m², tọa lạc tại thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
  2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Trần Ngọc Đ theo quy định pháp luật.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định: Căn cứ vào Điều 358, Điều 362 của Luật Tố tụng hành chính: Chấp nhận ông Trần Ngọc Đ tự nguyện chịu số tiền 4.600.000₫ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) chi phí giám định, đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

3. Về án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:

  1. Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
  2. Trả cho ông Trần Ngọc Đ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0002324 ngày 22-11-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - UBND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ thụ lý; Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Quách Trọng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HC-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về khiếu kiện huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 38/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger