|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/DS-ST Ngày: 23 – 5 - 2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Trần Ngọc Phương;
- 2. Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 590/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị H, sinh năm 1957; địa chỉ: 1 khu phố C,
phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1965; địa chỉ: A, đường B, tổ F, khu A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: 1238/1 Lê Hồng P, tổ I, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/11/2024), có mặt khi xét xử và vắng mặt khi tuyên án.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1955; địa chỉ: 1 khu phố C,
phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Bà Nguyễn Thị Quốc N1, sinh năm 1983; địa chỉ: Số F khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quốc N2, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Lưu Thị D được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN QSD đất số 00229 QSDĐ/TTLT ngày 27/4/2004 cấp cho hộ bà Lưu Thị Dầu . Nguồn gốc đất bà Lưu Thị D được cấp là do mẹ bà Lưu Thị D để lại. Từ năm 1975 bà D tiếp tục quản lý, sử dụng cùng với con là ông Nguyễn Văn N, bà Lưu Thị H và đến năm 1985 bà Lưu Thị H đứng ra đăng ký ruộng đất 299. Đến năm 1989, bà Lưu Thị H lập gia đình nên ra ở riêng xác nhà của bà Lưu Thị Dầu . Còn ông Nguyễn Văn N tiếp tục sống cùng với bà Lưu Thị Dầu . Đến năm 2004, bà Lưu Thị D tiến hành đăng ký, kê khai đối với phần diện tích đất mẹ bà D để lại và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Lưu Thị Dầu . Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Lưu Thị D thì hộ bà D gồm có bà D, ông N và 02 người con của ông N là bà Nguyễn Thị Quốc N1, ông Nguyễn Quốc N2 nhưng trên thực tế ông N2, bà N1 chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú trong hộ chứ không sinh sống trên thửa đất cấp cho bà Lưu Thị Dầu .
Sau đó khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà D và ông N tiếp tục quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến năm 2005 bà D chết, ông N tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến nay. Trên thửa đất có một căn nhà tình thương do nhà nước cấp và gia đình hỗ trợ thêm để xây dựng nhà rộng thêm như hiện nay. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản trên đất.
Bà D có cha tên Lưu Văn H1 (đã chết) và mẹ tên Trần Thị B (đã chết). Bà D có chồng tên Nguyễn Văn M (đã chết). Bà D và ông M có 02 người con là bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N, ngoài bà H và ông N ra thì bà D không còn người con nào khác. Bà Lưu Thị D chết năm 2005 và không để lại di chúc nên phần diện tích đất thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản của bà Lưu Thị D để lại.
3
Hàng thừa kế thứ nhất của bà D gồm ông Nguyễn Văn N và bà Lưu Thị H.
Nay, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau: Bà H yêu cầu chia di sản thửa kế của bà Lưu Thị D để lại là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo kết quả đo đạc thực tế có diện tích 52,3m² cho bà H và ông N, mỗi người được nhận ½ bằng nhau. Bà H giao toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Nguyễn Văn N quản lý, sử dụng. Ông N có trách nhiệm thanh toán cho bà H ½ giá trị theo kết quả của Hội đồng định giá xác định.
Đối với tài sản trên đất thì bà H không tranh chấp.
- Theo bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Thống nhất quan hệ huyết thống của bà Lưu Thị D, nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp như người đại diện theo ủy quyền của bà Lưu Thị H trình bày. Thửa đất tranh chấp được cấp cho hộ bà Lưu Thị D vào năm 2004 và ông N là người đứng ra tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi bà H lập gia đình ra ở riêng thì ông N có cho bà Lưu Thị H một phần diện tích đất để bà H xây dựng nhà để ở như hiện nay. Ông N xác định thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương là do bà ngoại của ông N để lại cho bà Lưu Thị D nên thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà Lưu Thị D và ông N có nguyện vọng là phần diện tích đất, nhà bà D để lại mà ông N đang quản lý sử dụng là để ông N cũng như con cháu sau này thờ cúng ông bà, cha mẹ nên không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H.
- Theo bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Quốc N1 và ông Nguyễn Quốc N2 thống nhất trình bày: Thống nhất quan hệ huyết thống của bà Lưu Thị D và nguồn gốc phần đất tranh chấp như phần trình bày của người đại diện hợp pháp của bà Lưu Thị H. Ông Nguyễn Quốc N2 và bà Nguyễn Thị Quốc N1 là con ruột của ông Nguyễn Văn N. Bà N3 và ông N2 xác định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Lưu Thị D thì ông N2, bà N3 là thành viên trong hộ gia đình của bà D vì bà N3, ông N2 còn nhỏ sống cùng gia đình chứ không có quyền lợi gì đối với phần tài sản đang tranh chấp giữa bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H thì ông N2, bà N3 không có ý kiến hay yêu cầu gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do bận làm việc, không thể đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
4
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc là mẹ của bà D để lại cho bà Lưu Thị D và bà D chết không để lại di chúc nên phần diện tích đất thuộc thửa đất nêu trên là di sản của bà Lưu Thị Dầu . Cha, mẹ và chồng của bà D đã chết và bà D chỉ có 02 người con là bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N nên hàng thừa kế thứ nhất của bà Lưu Thị D là ông N và bà H. Tuy nhiên, ông N ở cùng với bà Lưu Thị D từ năm 1975 cho đến nay nên ông N có nhiều công sức gìn giữ phần di sản của bà Lưu Thị D để lại nên đề nghị Hội đồng xét xử tính công sức gìn giữ của ông N. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị H. Cụ thể, chia cho ông Nguyễn Văn N được hưởng 70% và bà Lưu Thị H được hưởng 30% phần di sản của bà Lưu Thị D để lại. Giao hiện vật phần di sản của bà Lưu Thị D cho ông Nguyễn Văn N tiếp tục quản lý, sử dụng và ông N có trách nhiệm thanh toán giá trị cho bà Lưu Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Lưu Thị H khởi kiện ông Nguyễn Văn N yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Lưu Thị D để lại và tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 05 (số thửa đất mới 691, 692), tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đồng thời bị đơn ông Nguyễn Văn N đang cư trú tại địa chỉ 1 khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo khoản 5 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc N2 và bà Nguyễn Thị Quốc N1 đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.
5
[1.3]. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lưu Thị H và bị đơn ông Nguyễn Văn N thống nhất các nội dung sau: Quan hệ huyết thống của bà Lưu Thị D; nguồn gốc phần diện tích đất thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ bà Lưu Thị D là do mẹ của bà Lưu Thị D để lại cho bà Lưu Thị D và quá trình quản lý, sử dụng đối với thửa đất từ khi mẹ bà Lưu Thị D để lại cho đến nay. Đây là các tình tiết không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4]. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN QSD đất số 00229 QSDĐ/TTLT ngày 27/4/2004 thì thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ bà Lưu Thị D và theo Công văn số 1069/CATP-QLHC ngày 30/11/2024 của Công an thành phố T thể hiện tại thời điểm ngày 27/4/2004 hộ bà Lưu Thị D có các thành viên gồm bà Lưu Thị D, ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Quốc N2 và bà Nguyễn Thị Quốc N1. Tuy nhiên, bà N1, ông N2 xác định không có quyền lợi gì đối với thửa đất nêu trên. Mặt khác, trên thửa đất tranh chấp có tồn tại 01 căn nhà cấp 4 (nhà đại đoàn kết) nhưng các đương sự không yêu cầu Tòa án phân chia đối với tài sản trên đất. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của ông Nguyễn Quốc N2, bà Nguyễn Thị Quốc N1 và không xem xét, phân chia đối với tài sản trên thửa đất tranh chấp.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lưu Thị H và bị đơn ông Nguyễn Văn N đều xác định cha, mẹ và chồng của bà Lưu Thị D đã chết trước khi bà D chết và bà D có 02 người con là bà Lưu Thị H, ông Nguyễn Văn N nên hàng thừa kế thứ nhất của bà Lưu Thị D gồm ông N, bà H theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự.
[2.3]. Xét thấy, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do mẹ bà Lưu Thị D để lại cho bà Lưu Thị Dầu . Từ năm 1975 đến khi bà D chết năm 2005 thì bà Lưu Thị D trực tiếp quản lý sử dụng. Trong quá trình quản lý, sử dụng bà Lưu Thị D có đứng ra đăng ký ruộng đất 299 vào năm 1985. Đến năm 2004, Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 58m² thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương do mẹ bà Lưu Thị D cho hộ bà Lưu Thị D để lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN QSD đất số 00229 QSDĐ/TTLT ngày 27/4/2004. Mặt khác, ông Nguyễn Quốc N2 và bà Nguyễn Thị Quốc N1 xác định do còn nhỏ sống cùng gia đình nên có tên trong hộ của bà Lưu Thị D và không có quyền lợi gì đối với thửa đất cấp cho hộ bà Lưu Thị D nêu trên; đồng thời, ông Nguyễn Văn N và bà Lưu Thị H đều
6
thống nhất về nguồn gốc thửa đất là do mẹ của bà Lưu Thị D để lại cho bà D. Như vậy, có cơ sở xác định thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của cá nhân bà Lưu Thị Dầu . Bà Lưu Thị D chết không để lại di chúc nên phần di sản của bà Lưu Thị D được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Lưu Thị D gồm bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N theo quy định tại Điều 650 và khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 675 và Điều 676 của Bộ luật Dân sự 2005).
Theo kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương có diện tích là 52,3m² đất ODT, trong đó có 5,6m² HLBVĐT và theo biên bản định giá tài sản xác định giá đất ODT là 30.000.000 đồng/m². Như vậy phần di sản bà Lưu Thị D để lại có giá trị là 1.569.000.000 đồng. Do đó, bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N hưởng phần di sản của bà Lưu Thị D bằng nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 651 của Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn N quản lý phần di sản của bà Lưu Thị D để lại từ năm 2005 cho đến nay (khoảng 20 năm), có công sức gìn giữ nên cần phải tính thù lao cho ông Nguyễn Văn N theo quy định tại khoản 3 Điều 618 của Bộ luật Dân sự tương ứng với 20% giá trị di sản thừa kế bà D để lại, tương ứng với số tiền 313.800.000 đồng (1.569.000.000 đồng x 20%). Như vậy, ông Nguyễn Văn N và bà Lưu Thị H, mỗi người được hưởng phần di sản có giá trị là 627.600.000 đồng (1.255.200.000 đồng/2).
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà Lưu Thị H xin nhận giá trị phần di sản của bà Lưu Thị D để lại và giao hiện vật cho ông Nguyễn Văn N quản lý, sử dụng; đồng thời phần di sản của bà D để lại hiện đang do ông Nguyễn Văn N đang quản lý, sử dụng. Do đó, giao phần diện tích đất 52,3m² thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho ông Nguyễn Văn N tiếp tục quản lý, sử dụng. Ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm thanh toán giá trị phần di sản bà Lưu Thị H được hưởng là 627.600.000 đồng theo quy định tại Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 685 của Bộ luật Dân sự 2005).
Từ những cơ sở nêu trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa xác định phần diện tích đất 52,3m² (trong đó có 5,6m² thuộc HLBVĐT) thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản của bà Lưu Thị D để lại và đề nghị tính công sức gìn giữ di sản cho ông Nguyễn Văn N, phần di sản còn lại cho theo pháp luật cho bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N là phù hợp quy định của pháp luật.
7
[5]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu chia thừa kế tài sản của bà Lưu Thị H được chấp nhận nên bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn N, mỗi người phải chịu ½ chi phí tố tụng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà Lưu Thị H đã nộp. Ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm hoàn trả ½ chi phí tố tụng cho bà H.
[6]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn N và bà Lưu Thị H đều trên 60 tuổi và đều yêu cầu miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông N và bà H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 618, 650, 651 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.
- Ông Nguyễn Văn N được quyền quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất 52,3m² (trong đó có 5,6m² thuộc HLBVĐT) thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có sơ đồ kèm theo).
- Ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm thanh toán cho bà Lưu Thị H số tiền 627.600.000 đồng (sáu trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN QSD đất số 00229 QSDĐ/TTLT ngày 27/4/2004 của Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp cho hộ bà Lưu Thị D đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
8
- Ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo nội dung Quyết định của bản án này theo quy định của pháp luật.
- Bà Lưu Thị H phải chịu 2.173.091 đồng tiền chi phí tố tụng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp. (Bà H đã chấp hành xong).
- Ông Nguyễn Văn N phải chịu 2.173.091 đồng tiền chi phí tố tụng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà H đã nộp. Ông N có trách nhiệm trả cho bà H số tiền 2.173.091 đồng.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc K |
Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 38/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lưu thị H- nguyễn văn n
