|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/DS-ST Ngày: 16/6/2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Xuân Đính
- Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 282/2024/TLST – DS ngày 19 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1974; nơi cư trú: khu phố A phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị Thùy U, sinh năm 1982, nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D trình bày:
Bà D và bà Võ Thị Thùy U có quen biết làm ăn với nhau từ năm 2020. Bà U nhiều lần vay tiền của bà D, vay rồi trả rồi vay lại. Ngày 03/6/2022, bà U và bà D thống nhất chốt nợ. Theo đó, bà U còn nợ bà D số tiền 130.000.000 đồng, hẹn trả ngày 03/12/2022. Hai bên có lập giấy “Biên nhận” đề ngày 03/6/2022. Đến hạn trả nợ bà U không trả, bà D nhiều lần đòi nợ nhưng bà U vẫn không chịu trả khiến bà D gặp nhiều khó khăn. Do đó, bà D khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc bà U trả số tiền gốc 130.000.000 đồng và tiền lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 03/12/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, tạm tính đến ngày 03/11/2024 là 24.817.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 20/5/2025, bà D có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu tính lãi suất, chỉ yêu cầu bà U trả số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 12/3/2025 bị đơn bà Võ Thị Thùy U trình bày:
Bà U không mượn số tiền mặt 130.000.000 đồng như bà D yêu cầu, mà giữa bà U và bà D có chơi hụi theo hình thức hụi ngày, mỗi ngày đóng 110.000 đồng, đóng 41 ngày. Bà không đồng ý trả tiền cho bà D với lý do trong giấy “Biên nhận” bà D nộp cho Toà án bà D đã chỉnh sửa và bôi xóa nên bà không chấp nhận.
Tại phiên tòa.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Bị đơn vắng mặt do có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Việc chấp hành theo quy định của pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về việc chấp hành theo quy định pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm;
Về nội dung: đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 244, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D: Buộc bà Võ Thị Thùy U phải trả cho bà D số tiền gốc đã vay là 130.000.000 đồng; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc D về phần yêu cầu bà U phải trả lãi suất
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, thảo luận và nghị án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, do bà D đứng đơn khởi kiện đối với bị đơn bà Võ Thị Thùy U cư trú tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
{4}. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn bà Võ Thị Thùy U vắng mặt do có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nợ gốc:
Bà D khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc bà U trả số tiền gốc 130.000.000 đồng, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình bà D cung cấp chứng cứ là giấy “Biên nhận” đề ngày 03/6/2022 và tập vi bằng do Văn phòng T Thành lập ngày 15/5/2025 thể hiện nội dung tin nhắn đòi nợ giữa bà D và bà U . Xét lời trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn có mâu thuẫn về nguồn gốc khoản tiền ghi trong giấy “biên nhận” bà D xuất trình bản gốc (BL 22), đối chiếu với bản bản chụp tin nhắn trên điện thoại thể hiện trong bản Vi bằng cuộc trao đổi giữa bà D với bà U vào lúc 09:41 ngày 19/02/2024 thì bà D có gửi cho bà U bản chụp từ giấy “Biên nhận” gốc. Bà D1 không có ý kiến phản đối, mặc dù trong giấy này có sửa chữa thêm ba con số “0” ở dãy số “130000” triệu, và dòng tiền viết bằng chữ “Một trăm, ba triệu đồng chẵn” sửa thành “Một trăm, ba mươi triệu đồng chẵn”, giữa hàng thứ 5 và hàng thứ 6 có dán bằng giấy xóa có dòng chữ “không tính lãi”. Tiếp theo ngày 20/5/2024, vào lúc 8:05, bà D nhắn tin để đòi nợ, bà U vẫn trả lời “cho em xin một hai ngày nữa nghen”. Bà D lý giải việc không ghi đủ con số “0” là do cách viết của dòng chữ bằng số là do cách viết của những người làm ăn buôn bán trong chợ. Xét lời trình bày của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với thực tế và khách quan. Vì theo mô tả của dòng chữ bằng tiền “Một trăm, ba triệu đồng chẵn” là sát nghĩa với dòng chữ có viết thêm “Một trăm, ba mươi triệu đồng chẵn”. Và thực tế, bà D chứng minh được việc có gửi bản chụp gốc đã sửa chữa trong bản chụp tin nhắn điện thoại cho bị đơn là bà U nhưng bà U không có tin nhắn phản đối, các nội dung tin nhắn này được bà D lập Bản Vi bằng làm chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình
Bà U cho rằng không vay tiền của bà D, mà có chơi hụi, bà D làm chủ hụi và bà có nợ lại bà D một số tiền và không nhớ cụ thể. Ngoài lời khai, bà U không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Bên cạnh đó, bà D còn cung cấp 01 bản photo (BL 23) là giấy vay tiền ngày 08/10/2021 bà U có vay của bà D số tiền 90.000.000 đồng
Từ phân tích trên, có căn cứ để xác định có việc bà U có vay số tiền 130.000.000 đồng của bà D như phía bà D khởi kiện. Do bà U chưa trả, đối chiếu với qui định tại các Điều 463, 466 BLDS, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là 130.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu tính lãi, do bà D đã rút yêu cầu khởi kiện, việc rút yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc do đó cần đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của bà D
Về án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bà U phải chịu án phí có giá ngạch là 6.500.000 đồng. Nguyên đơn bà D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 244, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D: Buộc bà Võ Thị Thùy U phải trả cho bà D số tiền gốc đã vay là 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng)
Kể từ ngày án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc D về phần yêu cầu bà U phải trả lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 03/12/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thùy U phải chịu 6.500.000 đồng. Bà Lê Thị Ngọc D không phải chịu, bà D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.250.000 đồng tại biên lai thu số 0004576 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án thị xã Chơn Thành.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ung Thị Ngọc Thanh |
Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 38/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chap vay
