| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2025/DS-PT
Ngày 27-6-2025
V/v Tranh chấp thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn.
Các Thẩm phán: Bà Bạch Thị Hồng Hoa
Ông Đinh Trường Sơn
- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Thu Hằng - Thư ký TAND tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình: Ông Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2025/TLPT-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025 về "Tranh chấp thừa kế".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 33/2025/QĐPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Đức T sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà G, ngõ A đường C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. SĐT: 0977.067.xxx
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Bùi Tiến S và luật sư Nguyễn Văn T1 – Văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ trụ sở: Số A, đường Q, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Bùi Đức T2, sinh năm 1968; nơi cư trú: Xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. SĐT: 0915.218.xxx
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn V - Công ty L1 – Đoàn Luật sư tỉnh H.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Bùi Đức T3, sinh năm 1954.
- + Ông Bùi Đức T4, sinh năm 1961.
- + Bà Bùi Thị T5, sinh năm 1964.
- + Bà Bùi Thị T6, sinh năm 1966.
1
- + Ông Bùi Văn T7, sinh năm 1972. Cùng cư trú: Xóm D, xã M, TP H, Hòa Bình
- + Bà Bùi Thị T8, sinh năm 1956; nơi cư trú: Phố B, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- + Chị Bùi Thu T9, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số nhà A, ngõ D phường K, quận T, thành phố Hà Nội. SĐT: 0375.422.xxx
- + Anh Đinh Đức T10, sinh năm 1981 và chị Đinh Thị T11, sinh năm 1985. Đều trú tại: Xóm B, xã M, thành phố H, Hòa Bình,
- + Anh Bùi Văn T12, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- + Bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1973; nơi cư trú: Xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Bùi Đức T trình bày:
Bố mẹ đẻ chúng tôi là cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B sinh được 10 người con là ông Bùi Tiến T13, tôi là Bùi Đức T, ông Bùi Đức T3, ông Bùi Đức T4, bà Bùi Thị T8, ông Bùi Đức T14, bà Bùi Thị T5, bà Bùi Thị T6, ông Bùi Đức T2 và anh Bùi Văn T7. Ông Bùi Tiến T13 tham gia kháng chiến chống Mỹ, hy sinh năm 1972, chưa có vợ con. Ông Bùi Đức T14 đã mất năm 2019, bố tôi (Bùi Văn Đ) chết ngày 26/06/2015 không để lại di chúc, mẹ tôi (Nguyễn Thị B) chết ngày 02/01/2018 không để lại di chúc. Lúc còn sống bố mẹ tôi bố mẹ tôi đã gây dựng, tạo lập được khối tài sản gồm có:
- Thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, diện tích 1.571m², (trong đó có 400m² đất ở nông thôn và 1.117m² đất vườn). Trên đất có ngôi nhà mái bằng bốn gian, bếp, công trình phụ, giếng nước, sân gạch và nhiều cây cối trên đất. Thửa đất được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00255 ngày 26/09/2000, và các thửa đất nông nghiệp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ký hiệu 593909 vào sổ: 00339 cấp ngày 26/09/2000 đứng tên chủ hộ cụ Bùi Văn Đ gồm:
- Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 31, diện tích 372m²
- Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 31, diện tích 58m²
- Thửa đất số 509, tờ bản đồ số 30, diện tích 670m²
- Thửa đất số 180a, tờ bản đồ số 31, diện tích 300m²
- Thửa đất số 129, tờ bản đồ số 31, diện tích 80m²
- Thửa đất số 52, tờ bản đồ số 38, diện tích 1620m²
Địa chỉ tại: Xóm D, xã M, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
Ngoài ra còn có thửa đất số 605, tờ bản đồ số 23, diện tích 376m²; thửa đất số 386, tờ bản đồ số 30, diện tích 986m² khi còn sống cụ Đ và cụ B đã chuyển nhượng và bị thu hồi nay không còn nữa.
2
Đối với khối tài sản nêu trên, khi còn sống bố mẹ tôi trực tiếp quản lý, sử dụng. Sau khi bố mẹ tôi chết đến nay, ông Bùi Đức T2 trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 2012, ông Bùi Đức T2 đã làm một Giấy ủy quyền. Theo đó nêu là cụ Bùi Văn Đ (bố đẻ của tôi) đã ủy quyền cho ông Bùi Đức T2 quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản gồm có thửa đất thổ cư số 488, tờ bản đồ số 30, diện tích 1.571m² (đã cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và 6 thửa đất nông nghiệp, đất vườn (đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) gồm thửa 509, diện tích 684m²; thửa đất số 129 diện tích 80m²; thửa đất số 182 diện tích 372 m²; thửa đất 182 diện tích 58m²; thửa đất số 180, diện tích 300m²; thửa đất số 52 (đất vườn), diện tích 1620m². Đây là di sản chung hợp pháp của cụ Đ và cụ B để lại. Tôi cho rằng Giấy ủy quyền này không được minh bạch, không hợp pháp vì tôi chưa được họp và chưa được ký vào biên bản này. Mặt khác tại thời điểm lập Giấy ủy quyền mẹ tôi còn sống nhưng mẹ tôi không biết gì và không có ký tên hoặc điểm chỉ vào Giấy ủy quyền này.
Sau khi bố mẹ tôi chết tài sản do ông Bùi Văn T15 quản lý sử dụng có sự thay đổi. Thửa đất số 180a, tờ bản đồ số 31, diện tích 300m² đã được chuyển nhượng cho cháu Bùi Văn T16 là con trai tôi; Thửa đất số 129, tờ bản đồ số 31, diện tích 80m² ông T15 nói bố mẹ tôi đã nhận tiền đền bù. Như vậy di sản thừa kế của bố mẹ tôi chỉ còn lại:
- Thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, diện tích 1.571m². Trên đất có ngôi nhà mái bằng bốn gian, bếp, công trình phụ, giếng nước, sân gạch và nhiều cây cối trên đất. Thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số vào sổ: 00255 ngày 26/09/2000). Sau khi khởi kiện tôi mới được biết ông Bùi Đức T2 đã sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này sang tên ông Bùi Đức T2.
- Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 31, diện tích 372 m²
- Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 31, diện tích 58 m²
- Thửa đất số 509, tờ bản đồ số 30, diện tích 670m². Thửa đất này đã được UBND thành phố thu hồi và đền bù số tiền 261.898.800 đồng. Ông Bùi Đức T2 đã đại diện gia đình nhận số tiền đề bù này.
- Thửa đất số 52, tờ bản đồ số 38 (đất vườn), diện tích 1620m². Đến nay thửa đất này thuộc diện thu hồi để làm đường liên kết vùng và đang được lên phương án đền bù.
Đối với thửa đất số 182 tổng diện tích 430m² khi còn sống cụ Đ và cụ B đã thống nhất trong gia đình giao cho cháu Bùi Văn T12 được quản lý và sử dụng do cháu T12 là cháu đích tôn ở với ông bà, được ông bà nuôi từ nhỏ.
Nay tôi yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ tôi cho tôi một phần đất tại thửa đất số 488 tờ bản đồ số 30, đối với số tiền đền bù của hai thửa đất số 509 và thửa đất số 52 tôi từ chối nhận để lại chia đều cho các anh chị em còn lại trong gia đình.
Bị đơn ông Bùi Đức T2 trình bày:
3
Bố tôi là cụ Bùi Văn Đ, sinh năm 1926 (đã chết năm 2015) và mẹ tôi là cụ Nguyễn Thị B, sinh năm 1926 (đã chết năm 2018) sinh được 10 người con: Ông Bùi Tiến T13 (đi bộ đội, đã hy sinh), ông Bùi Đức T, ông Bùi Đức T3, bà Bùi Thị T8, ông Bùi Đức T14 (đã chết), ông Bùi Đức T4, bà Bùi Thị T5, Bùi Thị T6, tôi là Bùi Đức T2, ông Bùi Văn T7. Khi bố mẹ tôi còn sống đã ở cùng vợ chồng tôi và chuyển toàn bộ tài sản đất nông nghiệp, nhà cửa, cây cối, hoa màu sang cho tôi toàn quyền quản lý, định đoạt bằng Giấy ủy quyền cho tôi và biên bản họp gia đình có sự chứng nhận của trưởng xóm, chính quyền địa phương và chữ ký toàn thể anh chị em trong gia đình. Nay ông Bùi Đức T yêu cầu chia thừa kế tài sản gồm thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30 và hai thửa đất nông nghiệp tôi không đồng ý. Vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Bùi Văn Đ, ông Đ đã có Giấy ủy quyền toàn bộ tài sản sang tên tôi Bùi Đức T2 thay cho di chúc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên trình bày:
1. Bà Nguyễn Hồng N (đã ủy quyền toàn bộ cho ông Bùi Đức T2):
Bà kết hôn với ông Bùi Đ1 từ năm 2008, sau khi kết hôn bà và ông T2 sống cùng bố mẹ tại nhà và đất thửa 488 từ đó tới nay, quá trình sống cùng bố mẹ có tôn tạo sửa chữa lại nhà cho khang trang để thuận tiện sinh sống. Năm 2012 cụ Bùi Văn Đ đã sang tên toàn bộ tài sản là nhà đất cho chồng tôi là ông Bùi Đức T2, việc sang tên là đúng vì vợ chồng tôi ở cùng và chăm sóc phụng dưỡng bố mẹ nên bố mẹ để lại tài sản cho vợ chồng tôi là đúng. Nay ông T kiện đòi chia tài sản là không đúng, các bác không ở cùng chăm sóc và phụng dưỡng bố mẹ, tôi không đồng ý chia tài sản. Tôi đồng ý với ý kiến của chồng tôi là Bùi Đức T2.
2. Ông Bùi Đức T4, ông Bùi Đức T3, ông Bùi Văn T7:
Xác nhận lời khai trình bày của nguyên đơn ông Bùi Đức T là đúng. Cụ Bùi Văn Đ (đã chết năm 2015) và cụ Nguyễn Thị B (đã chết năm 2018) sinh được 10 người con là: Ông Bùi Tiến T13 (đi bộ đội, đã hy sinh năm 1968), ông Bùi Đức T, ông Bùi Đức T3, bà Bùi Thị T8, ông Bùi Đức T14 (đã chết năm 2019), ông Bùi Đức T4, bà Bùi Thị T5, bà Bùi Thị T6, ông Bùi Đức T2, ông Bùi Văn T7.
Lúc còn sống bố mẹ tôi tạo lập được khối tài sản như nguyên đơn đã trình bày. Khi còn sống khối tài sản nêu trên do bố mẹ tôi trực tiếp quản lý, sử dụng. Khi bố mẹ tôi mất, không để lại di chúc gì. Sau khi bố mẹ tôi chết ông Bùi Đức T2 là con thứ 9 trong gia đình trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 2012 gia đình có tổ chức buổi họp gia đình có đầy đủ các anh chị em, chỉ có ông Bùi Đức T14 lúc đó đi tù không có mặt, buổi họp gia đình có ghi biên bản, nội dung buổi họp gia đình chỉ thống nhất để cho vợ chồng ông Bùi Đức T2 về ở cùng và chăm sóc bố mẹ, không quyết định phân chia tài sản gì. Sau này ông Bùi Đức T2 làm giấy ủy quyền, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào chúng tôi không được biết và không có sự đồng ý của chúng tôi.
Nay ông Bùi Đức T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, chúng tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Đức T, đề nghị Tòa án chia cho ông T một phần trong khối tài sản bố mẹ tôi để lại. Về bản thân chúng tôi (Bùi Đức T4, ông Bùi Đức T3, ông Bùi Văn T7), chúng tôi từ chối nhận phần di sản là đất đai do bố mẹ
4
tôi để lại chỉ đề nghị được chia một phần tiền đền bù đối với thửa đất số 509 và thửa đất số 52 được nhà nước đền bù.
3. Bà Bùi Thị T6: Bà T6 xác nhận về người thừa kế và di sản thừa kế và nội dung buổi họp gia đình năm 2012 như lời trình bày của nguyên đơn và những người liên quan khác. Bà Bùi Thị T6 trình bày bà là con gái út trong gia đình, khi bố mẹ còn sống có dành chia cho bà một phần đất trong thửa 488 để ở, việc này đều được các anh chị em trong nhà xác nhận, tuy nhiên chưa xác định diện tích và vị trí ở chỗ nào trong thửa đất 488 do bố mẹ để lại và chưa làm thủ tục chia tách. Nay bố mẹ đã chết, toàn bộ đất đai của bố mẹ đều do anh Bùi Đức T2 đang quản lý, tôi đề nghị được chia một phần đất nhỏ trong thửa bố mẹ để lại, và đề nghị được chia một phần tiền đền bù của các thửa đất 509, 52 được Nhà nước đền bù.
4. Bà Bùi Thị T8, Bùi Thị T5: Bà Bùi Thị T8 và bà Bùi Thị T5 xác nhận về các thành viên trong gia đình, di sản thừa kế còn lại và thời gian bố mẹ chết như lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và những người liên quan khác. Khi còn sống, khối tài sản nêu trên do bố mẹ tôi trực tiếp quản lý, sử dụng. Lúc đó bố mẹ tôi sống với vợ chồng ông bùi Đức T2 là con thứ 9 trong gia đình. Năm 2012 gia đình tôi có mở một cuộc họp. Tại cuộc họp gia đình có tất cả anh chị em (lúc đó ông T14 đi tù không có mặt). Biên bản cuộc họp không nói gì đến việc ủy quyền hay chia đất của bố mẹ, nội dung cuộc họp chỉ là yêu cầu ông T về chăm sóc bố mẹ nhưng ông T không về nên thống nhất bố mẹ ở với ông T2, ông T2 có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ.
Năm 2013 cụ Bùi Văn Đ (bố đẻ của tôi) ra Ủy ban nhân dân xã M chuyển toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất đai cho ông Bùi Đức T2. Việc ông Đ ra Ủy ban nhân dân xã M làm Giấy ủy quyền cho ông T2 tôi không được tham gia, chỉ có ông Đ và ông T2 ra xã để làm Giấy ủy quyền, tôi không được biết. Đối với nội dung yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Bùi Đức T, tôi không đồng ý vì bố đã ủy quyền cho T2 là quyền của ông T2 chúng tôi không đồng ý chia. Chúng tôi là phận gái đã đi lấy chồng ở riêng, tài sản của bố mẹ, bố mẹ cho ai là quyền của người đấy, chúng tôi không đồng ý chia và cũng từ chối nhận bất kỳ phần di sản thừa kế nào.
5. Chị Bùi Thu T9: Ông bà nội tôi là cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B khi chết không để lại di chúc gì. Khi còn sống ông bà đã chia cho bố tôi một phần đất, cho bằng miệng không có giấy tờ, bố tôi đã làm nhà trên phần đất đó. Khi ông bà chết ông Bùi Đức T2 đang trực tiếp quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản của ông bà để lại. Năm 2012 tôi không được tham gia họp gia đình. Do vậy việc lập Giấy ủy quyền giữa ông nội tôi là cụ Đ và ông T2 tôi không được biết. Đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông T, tôi có ý kiến đất của ông bà nội đã cho bố tôi, tôi đề nghị được hưởng một phần di sản của ông bà nội tôi để lại.
6. Anh Bùi Văn T12: Tôi là cháu của cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B, là con trai của ông Bùi Đức T.
5
Tôi được biết, ngày 02/08/2012 cụ Đ có Giấy ủy quyền cho chú Bùi Đức T2 các thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0593909 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00339. Ngày 06/06/2013 chú Bùi Đức T2 có lập Giấy ủy quyền cho tôi sử dụng thửa đất trồng lúa nước 182, diện tích 430m². Hiện trạng thửa đất số 182 do tôi đang trực tiếp quản lý, sử dụng từ năm 2014 cho đến nay. Đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của bố tôi ông Bùi Đức T tôi có ý kiến là: Đất của ông bà để lại giao cho ai thì người ấy sử dụng. Đối với thửa đất số 182, tờ bản đồ số 31, diện tích 430m² lúc còn sống ông bà nội tôi đã giao cho tôi quản lý và sử dụng nên tôi đề nghị được nhận phần di sản này. Việc giao này chỉ nói bằng miệng, không lập thành văn bản, chưa tiến hành sang tên và chưa có sự xác nhận của cơ quan Nhà nước. Nay tôi đề nghị ông Bùi Đức T2 công nhận và ký kết để thửa đất được sang tên cho tôi theo đúng quy định của pháp luật.
Các đương sự đều xác nhận cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B không có nghĩa vụ gì về tài sản trước khi chết.
Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình quyết định:
"1. Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Bùi Đức T đối với ông Bùi Đức T2. Tuyên bố giấy ủy quyền ngày 02/8/2012 giữa cụ cụ Bùi Văn Đ và ông Bùi Đức T2 vô hiệu.
2. Chia thừa kế cụ thể như sau:
2.1 Chia bằng hiện vật:
- Chia cho ông Bùi Đức T được hưởng thừa kế 285m² đất (trong đó có 80 m² đất ở nông thôn và 205 m² đất vườn) tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30 và toàn bộ tài sản có trên phần đất trên này (vị trí phần đất là phần đất là phần phía ngoài, giáp thửa 488a của ông Bùi Văn T7);
- Chia cho chị Bùi Thu T9 được hưởng thừa kế là 246,2m² đất (trong đó có 80 m² ở nông thôn và 166,2 m² đất vườn) đất tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30 (vị trí phần đất là phần đất là phần đất kế tiếp theo phần diện tích đất của ông Bùi Đức T).
- Chia cho ông Bùi Đức T2 được hưởng thừa kế là 833,4m² đất (trong đó có 160 m² đất ở nông thôn và 673,4 m² đất vườn) tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, và toàn bộ tài sản có trên phần đất trên này (vị trí phần đất là phần đất kế tiếp theo phần diện tích đất chia cho chị Bùi Thu T9);
- Chia cho bà Bùi Thị T6 được hưởng thừa kế là 133,84m² đất (trong đó có 80 m² đất ở nông thôn và 53,84 m² đất vườn) tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, vị trí phần đất là phần đất phía trong cùng giáp phần công trình phụ;
Kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 888507; số vào sổ cấp GCN: H – 00321/KSTC mang tên ông Bùi Đức T2, sinh ngày 20/8/1968 do UBND huyện K cấp ngày 07/8/2013 theo nội dung bản án đã phân chia (có sơ đồ phân chia diện tích đất kèm theo).
6
2.2 Chia di sản thừa kế là tiền đền bù như sau:
Chia cho ông Bùi Đức T2, ông Bùi Văn T7, bà Bùi Thị T6, ông Bùi Đức T3 và ông Bùi Đức T4, chị Bùi Thu T9 mỗi người được hưởng phần tiền bằng nhau là 133.310.016 đ (Một trăm ba mươi ba triệu, ba trăm mười nghìn, không trăm mười sáu đồng).
Ông Bùi Đức T2 đã nhận số tiền đền bù thửa đất 509 là 261.898.800đ, chênh lệch so với phần được hưởng là 128.588.784 (Một trăm hai mươi tám triệu, năm trăm tám mươi tám nghìn, bảy trăm tám mươi tư đồng). Ông Bùi Đức T2 cần phải bù cho 4 đồng thừa kế còn lại mỗi người số tiền là 25.717.756 đ (Hai mươi năm triệu, bảy trăm mười bảy nghìn, bảy trăm năm mươi sáu đồng).
Chia số tiền 537.961.296đ (năm trăm ba mươi bảy triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn, hai trăm chín mươi sáu đồng) đền bù của thửa đất số 52, tờ bản đồ số 38 cho những người đưởng hưởng thừa kế như sau: Ông Bùi Văn T7, bà Bùi Thị T6, ông Bùi Đức T3 và ông Bùi Đức T4, chị Bùi Thu T9 mỗi người được hưởng số tiền 107.592.259đ (một trăm linh bảy triệu, năm trăm chín mươi hai triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn đồng).
Đề nghị Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H thực hiện việc chi trả tiền bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với hộ cụ Bùi Văn Đ theo quyết định phê duyệt phương án đền bù số 99/QĐ – UBND ngày 16/01/2025 của UBND thành phố H theo kết quả phân chia của bản án nêu trên.
2.3 Giao thửa đất số 182 tổng diện tích 430 m², tờ bản đồ số 31, địa chỉ xóm D, xã M, Tp., tỉnh Hòa Bình cho anh Bùi Văn T12, sinh năm 1977, trú tại: Xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình được quyền quản lý và sử dụng."
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/01/2025, ông Bùi Đức T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét lại bản án của cấp sơ thẩm theo hướng sửa bản án vì ông cho rằng cấp sơ thẩm chia thừa kế cho ông T2 là nhiều, phần ông T là ít.
Ngày 22/01/2025, ông Bùi Đức T2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Không chia thừa kế đối với toàn bộ tài sản (Thửa đất số 488), đối với thửa 182 vẫn đồng ý cho cháu Bùi Văn T12.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, ông T2 đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế đất thổ cư (Thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, địa chỉ xóm D, xã M, Tp ., tỉnh Hòa Bình có diện tích 1571m², loại đất ở và vườn, tên chủ sử dụng đất theo trích lục thửa đất là ông Bùi Văn Đ).
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên nội dung đã kháng cáo.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
7
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Kháng cáo của ông T: Ông T được chia 285m² đất (trong đó có 80 m² đất ở nông thôn và 205 m² đất vườn) đã được nhiều hơn phần của bà Bùi Thị T6 và chị Bùi Thu T9, ông T kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Kháng cáo của ông T2: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T17 về yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Đ, bà B theo quy định của pháp luật. Công nhận thỏa thuận của đương sự đối với thửa đất số 182 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm:
Ngày 25/3/2025, ông Bùi Đức T2, có xuất trình 01 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/5/2013 thể hiện cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B có cho tặng ông Bùi Đức T2 thửa đất 488, được UBND xã M chứng thực hợp đồng tặng cho ngày 21/5/2013.
Đánh giá tính hợp pháp của Hợp đồng cho thấy: Theo Kết luận giám định, xác định là đúng chữ viết, chữ ký của cụ Đ. Tuy nhiên khi thực hiện ký, điểm chỉ trong việc thực hiện Công chứng, chứng thực không được thực hiện trước mặt người thực hiện Công chứng – chứng thực và người yêu cầu Công chứng – chứng thực (Vi phạm Điều 11 nghị định số 75/2000 ngày 08/12/2000 của Chính phủ)
Tại thời điểm đó, bà B còn sống, tỉnh táo, minh mẫn và là vợ hợp pháp của ông Đ, cũng là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản. Không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh bà B nhất trí, cùng ủy quyền hoặc tặng cho, chuyển nhượng tài sản cho ông T2.
Do vậy, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/5/2013 không có giá trị. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T17 về yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Đ, cụ B theo quy định của pháp luật. Công nhận thỏa thuận của đương sự đối với thửa đất số 182 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, VKSND tỉnh Hòa Bình đề nghị TAND tỉnh Hòa Bình giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
8
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét. Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
2.1. Kết quả thu thập chứng cứ các đương sự đều xác nhận: Di sản thừa kế của cụ Đ và cụ B còn lại là:
- Thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có diện tích 1571m², loại đất ở và vườn, tên chủ sử dụng đất theo trích lục thửa đất là ông Bùi Văn Đ.
- Số tiền đền bù thửa đất số 509, tờ bản đồ số 30, địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có diện tích 670.2m², mục đích sử dụng đất nông nghiệp, tên chủ sử dụng đất theo trích lục thửa đất là hộ ông Bùi Văn Đ. Số tiền 261.898.800 đồng
- Thửa đất số 52, tờ bản đồ số 38, địa chỉ xóm D, xã M, huyện K (nay là thành phố H), tỉnh Hòa Bình có diện tích 1620m², mục đích sử dụng đất vườn được UBND huyện K, Hòa Bình cấp GCN số 00339 QSDĐ/NNKS ngày 25/9/2000 cho hộ ông Bùi Văn Đ. Số tiền 537.961.296đ (theo quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án: Đường liên kết vùng Hòa Bình – Hà Nội và cao tốc Sơn La (Hòa Bình - M) địa phận xã M, Tp H đợt 6).
- Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 31, địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có diện tích 430m², mục đích sử dụng đất nông nghiệp, tên chủ sử dụng đất theo trích lục thửa đất là hộ ông Bùi Văn Đ.
2.3. Bị đơn là ông Bùi Đức T2 trình bày và cung cấp tài liệu chứng cứ: Năm 2012 gia đình có họp gia đình thống nhất phân chia tài sản. Ngày 02/8/2012, cụ Bùi Văn Đ có viết giấy ủy quyền toàn quyền tài sản của ông cho ông Bùi Đức T2 có cụ Bùi Văn Đ ký nhận phần người viết ủy quyền, ông Bùi Đức T2 ký nhận phần người nhận ủy quyền có sự chứng nhận của UBND xã. Năm 2013 ông Bùi Đức T2 đã làm thủ tục sang tên thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, diện tích 1571m², địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình sang tên mình là ông Bùi Đức T2. Bị đơn cho rằng Giấy ủy quyền trên chính là di chúc của cụ Đ để lại tài sản cho mình do đó không đồng ý chia.
Giấy ủy quyền được lập ngày 02/8/2012, nội dung về việc ủy quyền toàn bộ tài sản cho ông Bùi Đức T2, giấy ủy quyền trên được lập khi cụ Đ và cụ B đều còn sống tuy nhiên không có chữ ký hoặc điểm chỉ của cụ B, trình bày về nội dung này tại cấp sơ thẩm cả ông T2, bà T8, bà T5 đều khai là bà B không biết chữ nên không thể ký và viết được. (Tại biên bản phiên tòa ngày 21/01/2025 luật sư T1 và kiểm sát hỏi ông T2 căn cứ vào đâu để làm được giấy chứng nhận thì ông T2 đáp theo giấy ủy quyền ngày 02/8/2012, giấy ủy quyền đó mẹ tôi không ký vì không biết chữ (bút lục 427, 428).
9
Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND M, ông Nguyễn Văn M – Phó chủ tịch xã M là người xác nhận vào giấy ủy quyền cung cấp thông tin: “Giấy ủy quyền được đánh máy sẵn, có nội dung cụ Bùi Văn Đ ủy quyền cho con trai là Bùi Đức T2 được nhận toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất nông nghiệp”. Khi đề nghị xác nhận vào giấy ủy quyền tôi thấy cụ Bùi Văn Đ và ông Bùi Đức T2 đã ký sẵn, tôi không được chứng kiến việc ông Đ và ông T2 ký trước sự chứng kiến của tôi".
Như vậy, Giấy ủy quyền do bị đơn cung cấp không được coi là di chúc định đoạt về tài sản của cụ Đ và cụ B, nguyên đơn đề nghị không công nhận hiệu lực của Giấy ủy quyền là có căn cứ.
2.4. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị đơn ông Bùi Đức T2, có xuất trình 01 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/5/2013 thể hiện cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B có cho tặng ông Bùi Đức T2 thửa đất 488, được UBND xã M chứng thực hợp đồng tặng cho ngày 21/5/2013 (bản sao).
Ngày 12/4/2025 Ông Bùi Đức T có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với: Chữ ký, chữ viết của cụ Bùi Văn Đ trong hợp đồng cho tặng ngày 16/5/2013 (chi phí giám định do người yêu cầu chịu).
Ngày 24/4/2025 Phòng K - Công an tỉnh H đã ra kết luận giám định số 229/KL-KTHS thể hiện: Chữ ký, chữ viết của cụ Bùi Văn Đ dưới mục bên A tại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/5/2013 (thửa đất 488, được UBND xã M chứng thực hợp đồng tặng cho ngày 21/5/2013) với chữ ký, chữ viết của người đứng tên Bùi Văn Đ dưới mục người khai tên phiếu Đảng viên lập ngày 01/11/2002 và quyển sổ nhận lương của Bùi Văn Đ) do cùng một người ký, viết ra.
- Ông T có ý kiến: Nhất trí kết luận giám định về chữ viết, chữ ký của ông Bùi Văn Đ, đề nghị Tòa án xem xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được UBND xã M chứng thực ngày 21/5/2013 không có giá trị pháp lý vì:
- + Ký, điểm chỉ trong việc thực hiện chứng thực không được thực hiện trước mặt người thực hiện chứng thực (Vi phạm Điều 11 nghị định số 75/2000 ngày 08/12/2000 của Chính phủ).
- + Bà B không biết chữ nhưng lại có chữ ký đề tên cụ B trong bản Hợp đồng tặng cho này là vi phạm Điều 41 Luật Công chứng năm 2006
- Ông T2 có ý kiến: Nhất trí kết luận giám định về chữ viết, chữ ký của cụ Bùi Văn Đ, cụ B không biết chữ nhưng có thể ký được tên của mình.
Tòa xét:
2.4.1. Về việc giao nộp chứng cứ:
Theo khoản 1 Điều 287 BLTTDS: Đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ sau đây trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: (a) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp,
10
giao nộp được vì có lý do chính đáng; (b) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm. Do vậy, chứng cứ mà ông T2 giao nộp 01 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/5/2013 thể hiện cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B có cho tặng ông Bùi Đức T2 thửa đất 488, được UBND xã M chứng thực hợp đồng tặng cho ngày 21/5/2013 (bản sao) là đúng theo quy định.
2.4.2. Về chủ thể ký hợp đồng:
Ngày 16/5/2013 cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B đã lập hợp đồng cho tặng là thửa đất số 488, tờ bản đồ số 30, địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có diện tích 1571m², loại đất ở và vườn, tên chủ sử dụng đất là cụ Bùi Văn Đ và được Chủ tịch UBND xã M là ông Nguyễn Đăng D ký chứng thực vào ngày 21/5/2013.
Kết quả giám định xác định đúng là chữ ký của ông Đ.
Đối với chữ ký của bà B, tại cấp sơ thẩm, ông T2 và các đương sự khác đều thể hiện lời khai về việc cụ B không ký vào giấy ủy quyền ngày 02/8/2012 là do cụ B không biết ký và viết, và thực tế cũng không có tài liệu nào khác để so sánh chữ viết, chữ ký của cụ B.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2025 ông T2 trình bày: “Việc ký giấy tờ trong Hợp đồng tặng cho là do cụ Đ và cụ B đến UBND xã M ký, sau khi các cụ về nhà thì ông T2 mới đến UBND xã thực hiện ký hoàn thiện giấy tờ, như vậy ông T2 cũng không nhìn thấy cụ B có ký hay không.
Ông Nguyễn Đăng D, hiện trú tại xóm Đ, xã M, thành phố H (ông D là Chủ tịch UBND xã ký chứng thực vào hợp đồng cho tặng, ông D ý kiến: “Ngày 21/5/2013 cán bộ công chức chuyên môn có cầm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ghi tên cụ Đ, cụ B và ông T2 đến phòng làm việc của tôi trình tôi ký, nội dung trong hợp đồng do chuyên môn làm trước đó, không biết có mặt cụ Đ, cụ B có đến UBND xã hay không, tôi không biết. Khi ký chứng thực thì tôi không thấy cụ Đ, cụ bản, ông T2”.
Ông Bùi Văn T18, hiện trú tại xóm B, xã M, thành phố H - ông T18 là cán bộ địa chính xã khi ký chứng thực vào hợp đồng cho tặng, ông T18 ý kiến: “Thời điểm chúng thực hợp đồng tôi được biết cụ Đ có đến trụ sở UBND xã gặp tôi để làm thủ tục tặng cho tài sản quyền sử dụng đất, cụ Đ có ký vào hợp đồng, thời điểm đó cụ bản cũng có mặt tại UBND xã, còn việc cụ bản có ký vào hợp đồng hay không do thời gian đã lâu tôi không nhớ rõ. Sau khi các bên ký vào hợp đồng thì tôi cầm hợp đồng chuyển cho chủ tịch là ông D ký chứng thực, lúc đó không có mặt cụ Đ, cụ B và ông T2.”
Từ những căn cứ trên, có căn cứ xác định chữ ký, chữ viết trong hợp đồng không phải do cụ B thực hiện.
2.4.3. Về hình thức của hợp đồng:
11
- Điều 129 Luật Đất đai 2003 quy định: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước.
- Điều 11 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định: “Việc ký, điểm chỉ của người yêu cầu công chứng, chứng thực phải được thực hiện trước mặt người thực hiện công chứng, chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”;
- Điều 59 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định: Văn bản công chứng, văn bản chứng thực đối với hợp đồng, giao dịch có từ 2 trang trở lên, thì từng trang phải được đánh số thứ tự, có chữ ký tắt của người yêu cầu công chứng, chứng thực và người thực hiện công chứng, chứng thực, riêng trang cuối phải có chữ ký đầy đủ; số lượng trang phải được ghi vào cuối văn bản;
Như vậy, căn cứ vào lời khai của các đương sự, hình thức của hợp đồng thì hợp đồng đã vi phạm Điều 11, Điều 59 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ.
2.4.4. Quyền định đoạt tài sản của vợ chồng:
Cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B là vợ chồng, Theo quy định tại Điều 27, 28 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và Điều 219 BLDS năm 2005 thì tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận. Do đó, trong vụ án này, trường hợp cụ Đ có ký hợp đồng cho tặng tài sản mà không có sự đồng ý, không có uỷ quyền của cụ B là trái với quy định, chỉ có một bên cụ Đ tham gia ký kết hợp đồng tặng cho bên còn lại không tham gia ký kết, không đồng ý thì hợp đồng đó vô hiệu toàn bộ.
2.4.5. Theo công văn số 1035 ngày 05/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố H đã phúc đáp cho Tòa án với nội dung: Hiện tại trong kho lưu trữ của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố H không có hồ sơ chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T2, ông Đ.
2.4.6. Như vậy, hợp đồng tặng cho tài sản do bị đơn cung cấp cũng không có căn cứ để xác định việc cụ Đ và cụ B cho tặng ông T2 như nội dung phân tích trên.
2.5. Cấp sơ thẩm xác định các nội dung:
Cụ Bùi Văn Đ (chết ngày 26/06/2015) và cụ Nguyễn Thị B (chết ngày 02/01/2018) có 10 người con. Tất cả các di sản trên đều là tài sản của cụ Đ và cụ B tạo lập lên, trước khi chết cụ Đ và cụ B không để lại di chúc.
12
Ông Bùi Tiến T13, hy sinh năm 1972, chưa có vợ con do vậy không có thừa kế thế vị. Ông Bùi Đức T14 đã mất năm 2019, mất sau cụ Đ và cụ B, ông Bùi Đức T14 có 02 người con với người vợ đầu là Đinh Đức T10 và Đinh Thị T11, ông T14 có 01 người con với người vợ sau là chị Bùi Thu T9. Quá trình giải quyết vụ án chị T11 và anh T10 có đơn từ chối nhận di sản thừa kế. Do vậy chỉ còn lại chị T9 là người thừa kế thế vị của ông Bùi Đức T14.
Bà Bùi Thị T8 và bà Bùi Thị T5, đã có đơn và lời khai từ chối nhận toàn bộ di sản thừa kế, xét đơn từ chối nhận di sản thừa kế của những người có quyền thừa kế trên là tự nguyện, hợp pháp, không bị ai ép buộc, không trốn tránh nghĩa vụ thừa kế nào nên cần chấp nhận.
Do đó, di sản thừa kế của cụ Đ, cụ B sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ và cụ B gồm: ông Bùi Đức T, ông Bùi Đức T2, ông Bùi Đức T3, ông Bùi Đức T4, ông Bùi Văn T7, bà Bùi Thị T6 và chị Bùi Thu T9.
Ông Bùi Đức T từ chối nhận di sản là tiền đền bù của hai thửa đất số 509 và thửa đất số 52, chỉ yêu cầu được chi bằng hiện vật là một phần đất tại thửa đất số 488 tờ bản đồ số 30.
Ông Bùi Đức T3, ông Bùi Đức T4, ông Bùi Văn T7 từ chối nhận di sản bằng hiện vật là một phần đất tại thửa đất số 488 tờ bản đồ số 30 chỉ yêu cầu được chia một phần tiền đền bù của hai thửa đất số 509 và thửa đất số 52.
Để Quyết định phân chia di sản thừa kế của cụ Đ, cụ B cho những người được hưởng thừa kế trong đó có phần của ông T và ông T2 là có căn cứ.
2.6. Chia phần di sản là tiền đền bù của hai thửa đất:
+ Đối với thửa đất số 509, tờ bản đồ số 30, địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có diện tích 670.2m², được UBND huyện K, Hòa Bình cấp GCN số 00339 QSDĐ/NNKS ngày 25/9/2000 cho hộ ông Bùi Văn Đ, thửa đất trên nằm trong danh sách thu hồi để thực hiện dự án: Khu dân cư nông thôn mới. Căn cứ quyết định số 4972/QĐ-UBND ngày 20/11/2023 của UBND thành phố H v/v phê duyệt dự toán và phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án: Số tiền được đền bù là 261.898.800đ. Toàn bộ số tiền đền bù trên ông Bùi Đức T2 đã đại diện gia đình nhận đầy đủ.
+ Đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 38, địa chỉ xóm D, xã M, huyện K (nay là thành phố H), tỉnh Hòa Bình có diện tích 1620m² - đất vườn được UBND huyện K, Hòa Bình cấp GCN số 00339 QSDĐ/NNKS ngày 25/9/2000 cho hộ ông Bùi Văn Đ. Thửa đất đã được nhà nước thu hồi để làm đường Liên kết vùng Hòa Bình – Hà Nội và cao tốc Sơn La và có quyết định số 99/QĐ – UBND ngày 16/01/2025 của UBND thành phố H phê duyệt phương án đền bù với số tiền 537.961.296đ.
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự cũng đều thừa nhận đó là đất của cụ Đ và cụ B, do vậy cấp sơ thẩm phân chia thừa kế là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đồng ý không có ý kiến về nội dung này.
13
[4]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới được pháp luật chấp nhận nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa.
[5]. Những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về án phí:
6.1. Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Căn cứ vào biên bản định giá ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá để buộc những người được hưởng thừa kế phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần di sản mình được hưởng là có căn cứ.
6.2. Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Ông T là người cao tuổi được miễn tiến án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức T và bị đơn ông Bùi Đức T2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2025 /DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
2. Về án phí sơ thẩm:
2.1. Ông Bùi Đức T là người cao tuổi được miễn toàn bộ án phí.
2.2. Buộc những người được hưởng thừa kế còn lại phải chịu án phí đối với phần di sản mình được hưởng như sau:
- - Ông Bùi Đức T2 phải chịu 104.005.000đ (một trăm linh bốn triệu, không trăm linh năm nghìn đồng)
- - Ông Bùi Đức T4 phải chịu 6.665.500đ (sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng)
- - Ông Bùi Đức T3 phải chịu 6.665.500đ (sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng)
- - Ông Bùi Văn T7 phải chịu 6.665.500đ (sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng)
- - Bà Bùi Thị T6 phải chịu 31.603.000đ (ba mươi mốt triệu, sáu trăm linh ba nghìn đồng)
14
- - Bà Bùi Thu T9 phải chịu 46.723.000đ ( bốn mươi sáu triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng)
3. Về án phí phúc thẩm:
3.1. Ông Bùi Đức T2 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004329 ngày 23/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
3.2. Trả lại cho ông Bùi Đức T 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004330 ngày 24/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (27/6/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Tuấn |
15
Bản án số 38/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 38/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
