Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/DS-PT

Ngày: 13/02/2025.

V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Văn Hải

2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 350/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 189/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 484/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái T, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: Số C, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1/ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ thường trú: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Có mặt.

2/Ông Nguyễn Văn Quan V, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ liên hệ: Cạnh số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 04/10/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hồ Thị T1 – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; Có mặt.

- Bị đơn: Công ty cổ phần T5.

Địa chỉ: Số C, đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Lương T2 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng Giám đốc; Nơi cư trú: Số A, ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Cao Thị Kim H– Chi nhánh Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Bùi Phước T3, sinh năm 1950.

Nơi cư trú: Số A, ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ; Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: Số B, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Nguyễn Hồ Thân V1, sinh năm 198.0

Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bà H1, ông V1: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ thường trú: Khóm T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; Địa chỉ liên lạc: Số G, đường H, khu V, phường E, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (Văn bản ủy quyền ngày 15/7/2024); Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V1: Luật sư Nguyễn Ngọc L− Chi nhánh số 1 Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; Có mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần T5(có ông Bùi Lương T2đại diện theo pháp luật) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/9/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Thái T trình bày:

Vào ngày 12/9/2016, ông (Nguyễn Thái T) cho Công ty T5 mượn số tiền 2,5 tỷ đồng (theo Giấy mượn tiền ngày 12/9/2016 và Biên bản họp cổ đông của Công ty).

Ông Bùi Lương T2và các thành viên Công ty là bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ông Bùi Phước T3 thống nhất vay tiền và cam kết sẽ trả số tiền vay trong vòng 30 ngày. Việc vay mượn tiền có sự chứng kiến và chịu trách nhiệm của ông Lê Xuân T4 và chồng bà H1 là ông Nguyễn Hồ Thân V1.

Sau khi ký giấy mượn tiền, ông đã giao đủ số tiền 2,5 đồng, nhưng khi đến hạn Công ty không trả nợ; mặc dù ông có đòi nợ nhiều lần. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm, nên ông khởi kiện buộc Công ty trả tổng số tiền 4.222.250.000 đồng (trong đó: nợ gốc là 2,5 tỷ đồng và tiền lãi 0,83%/tháng tạm tính từ ngày 12/9/2016 đến ngày 12/9/2023 là 1.722.250.000 đồng) và yêu cầu tính lãi đến khi vụ án được xét xử sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án, tại đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện ngày 25/6/2024, nguyên đơn bổ sung yêu cầu Tòa án xem xét buộc Công ty T5 và bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ông Bùi Phước T3 và ông Nguyễn Hồ Thân V1 có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền 4.222.250.000 đồng (trong đó: nợ gốc là 2,5 tỷ đồng và tiền lãi 0,83%/tháng tạm tính từ ngày 12/9/2016 đến ngày 12/10/2023 là 1.722.250.000 đồng) và tính lãi đến khi xét xử sơ thẩm và rút lại yêu cầu đối với ông Lê Xuân T4.

* Bị đơn Công ty cổ phần T5(có ông Bùi Lương T2đại diện theo pháp luật)trình bày:

Vào đầu tháng 9/2016, ông có trao đổi với ông Nguyễn Hồ Thân V1 là chồng của cổ đông Nguyễn Thị Mỹ H1 (25% vốn góp trong Công ty) là cần nguồn vốn 2,5 tỷ đồng để cho Công ty TNHH MTV X do ông Lê Ngọc N làm Giám đốc mượn, với mục đích ông N chạy vốn vay để đầu tư xây dựng giai đoạn 2 “Nhà máy chế biến lương thực và kho nông sản T6” - tọa lạc ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, với lời hứa là khi vay được vốn sẽ giao cho Công ty T5 làm tổng thầu xây dựng giai đoạn 2 (có ký hợp đồng tổng thầu BT số 01/2016/HĐTTBT ngày 19/8/2016) và hoàn trả số tiền 2,5 tỷ đồng đã mượn.

Sau khi trao đổi, ông V1 sẽ tìm kiếm người cho Công ty mượn tiền, vài ngày sau ông V1 nói đã trao đổi với ông Nguyễn Thái T (bà con với ông V1) và ông Tđồng ý cho mượn tiền với điều kiện giấy mượn tiền phải có chữ ký của 03 cổ đông (ông T2 51%, bà H1 25%, ông T3 21%) và ông V1, ông Lê Xuân T4 ký làm chứng và chịu trách nhiệm.

Đến ngày 12/9/2016, ông V1 kêu ông in (lập) giấy mượn tiền, trong đó bên A (bên cho mượn là ông Nguyễn Thái T), bên B (bên mượn là thành viên cổ đông Công ty gồm: Bùi Lương T2, Nguyễn Thị Mỹ H1 và Bùi Phước T3), bên C (bên chứng kiến và chịu trách nhiệm gồm: ông Nguyễn Hồ Thân V1, ông Lê Xuân T4) cho mọi người ký tên và đóng dấu Công ty (Kèm biên bản bàn giao các hồ sơ của Công ty B1 và hợp đồng tổng thầu BT số 01/2016/HĐTTBT ngày 19/8/2016).

Đến ngày 16/9/2016, ông V1 gọi điện thoại nói đã có tiền, yêu cầu ông và ông N đến Văn phòng công chứng 24h để hai bên ký hợp đồng cho mượn tiền không tính lãi, khi công chứng hợp đồng cho mượn tiền xong, ông gọi điện thoại báo ông V1 biết, ông V1 kêu ông cầm hợp đồng đến nhà ông V1 ở (hẻm) đường T, phường X và ông V1 đưa cho ông một bịch nylon màu đen có đựng tiền bên trong (không có kiểm đếm); ông đem bịch tiền đến nhà chị Trần Thanh B ở đường Đ, phường X theo yêu cầu của ông N để đưa tiền cho ông N, có sự chứng kiến của chị B và ông Nguyễn Va Q. Đến ngày 12/10/2016, do Công ty X của ông N chưa vay được tiền, nên chưa trả lại tiền nên ông không có tiền hoàn trả ông T.

Hai bên thông qua ông V1 xin gia hạn, đợi Công ty X của ông N vay được tiền trả ông, thì ông sẽ trả tiền cho ông T.

Đến ngày 10/12/2016, ông T hẹn ông, kêu ông V1 và ông N đến Văn phòng Công ty T5 và bắt ông ký biên bản bàn giao hồ sơ và con dấu của Công ty T5 và hợp đồng mượn tiền không tính lãi giữa ông và Công ty X có công chứng... Do bị

ông T giữ con dấu, hóa đơn, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nên Công ty T5 đã gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh.

Đến giữa năm 2017, Công ty T5 ngưng hoạt động hoàn toàn, nhưng chưa làm thủ tục phá sản. Từ ngày 10/3/2017 đến nay ông T không liên lạc với ông và cũng không gặp ông. Đến đầu tháng 5/2022, ông V1 gọi điện thoại cho ông, nói ông T gửi đơn tố giác đến Văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, ông đến làm việc tại Cơ quan điều tra; qua làm việc ông T yêu cầu ông viết giấy cam kết trả số nợ 2,5 tỷ đồng. Nay ông T khởi kiện ra Tòa án, buộc ông trả số nợ gốc và lãi 0,83%/tháng, ông đại diện Công ty T5 đồng ý trả số nợ 2,5 tỷ đồng cho ông T, với điều kiện khi nào Công ty X trả tiền cho ông và không chịu lãi suất, vì việc mượn tiền không có thỏa thuận lãi suất.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt có từng ý kiến như sau:

- Theo bản tự khai ngày 26/6/2024, ông Bùi Phước T3 trình bày:

Con trai ông là Bùi Lương T2có đứng tên cổ phần trong Công ty T5, với tư cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng Giám đốc và ông T2 có nhờ ông đứng tên cổ phần, nhưng mọi hoạt động của Công ty T5 ông không có tham gia và cũng không biết gì hết. Do đó, ông không chấp nhận chịu trách nhiệm liên đới trả nợ theo đơn khởi kiện của ông T.

Số tiền nợ theo giấy mượn tiền sẽ do ông T2 đại diện Công ty trả và ông xin Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Theo bản tự khai ngày 15/7/2024, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 trình bày:

Căn cứ vào giấy mượn tiền cũng như lời trình bày của ông Bùi Lương T2, thì xác nhận bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 2,5 đồng. Việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi là không phù hợp, vì đây là số tiền mượn, thời hiệu tính lãi không phù hợp với quy định. Bà là thành viên góp vốn của Công ty T5; tại thời điểm mượn tiền, ông T cho Công ty T5 mượn tiền, chứ không phải cá nhân bà hay bất kỳ ai mượn tiền. Việc nguyên đơn yêu cầu người liên quan cùng có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn là không đúng, bởi chỉ có bị đơn mượn tiền của nguyên đơn nên bị đơn có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn.

- Theo bản tự khai ngày 15/7/2024, ông Nguyễn Hồ Thân V1 trình bày:

Ông chỉ là người làm chứng việc mượn tiền, ông xác nhận việc mượn tiền là có thật, ông Bùi Lương T2xác nhận bị đơn (Công ty T5) nợ của nguyên đơn số tiền 2,5 đồng cần xem xét, giải quyết. Việc nguyên đơn yêu cầu người liên quan cùng có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn là không đúng, bởi chỉ có bị đơn mượn tiền của nguyên đơn, nên bị đơn mới có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn.

Tại bản án dân sự dân sự sơ thẩm số: 189/2024/DSST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc Công ty cổ phần T5 và ông Nguyễn Hồ Thân V1 phải liên đới trách nhiệm cùng trả nợ cho ông Nguyễn Thái T4.471.250.000 đồng (gốc: 2.500.000.000 đồng, lãi 1.971.250.000 đồng).

Đối với các giấy tờ mà Công ty T5 giao cho ông T giữ (theo biên bản ngày 12/9/2016), ông T2 khai đã nhận lại các giấy tờ trên nên không xem xét giải quyết.

2/ Không chấp nhận yêu cầu buộc bà H1, ông T3 liên đới trả nợ cho ông T;

3/ Đình chỉ yêu cầu đối với ông Lê Xuân T4.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 12/8/2024, bị đơn Công ty cổ phần T5 (có ông Bùi Lương T2đại diện theo pháp luật) yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên bố không tính lãi suất đối với số tiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) theo Giấy nhận nợ.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 16/8/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1 yêu cầu cấp phúc thẩm xác định ông không có trách nhiệm liên đới với bị đơn Công ty T5 về việc trả nợ cho nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị đơn Công ty cổ phần T5 (có ông Bùi Lương T2 đại diện theo pháp luật) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người liên quan có kháng cáo ông Nguyễn Hồ Thân V1 (Luật sư Nguyễn Ngọc L):

- Một, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng khi không đưa người liên đới chịu trách nhiệm trả nợ là ông Lê Xuân T4 cũng như Công ty X vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì ông T4 cũng là người ký tên là người chứng kiến trong Giấy mượn nợ của Công ty T5 và trong các biên bản thể hiện trong hồ sơ cũng như lời thừa nhận của bị đơn về việc Công ty T5 mượn tiền dùm cho Công ty X và ông T cũng biết điều này.

- Hai, tại biên bản hòa giải và yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn không hề đề cập đến nội dung yêu cầu ông V1 phải liên đới trả nợ. Việc bản án sơ thẩm buộc ông V1 liên đới trả nợ với Công ty T5 là đã vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ba, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với người liên quan ông Lê Xuân T4 là không phù hợp, ảnh huởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hồ Thân V1.

- Bốn, bản án sơ thẩm buộc ông V1 chịu trách nhiệm liên đới trả nợ gốc và lãi là chưa phù hợp, do thời hiệu khởi kiện đã không còn, ông V1 cũng đã yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên nghĩa vụ liên đới chịu án phí sơ thẩm là trái với quy định theo Nghị quyết 326 về án phí lệ phí Tòa án.

Tóm lại, theo Giấy mượn tiền thì bị đơn Công ty T5 là bên có trách nhiệm trả tiền, ông V1 và ông T4 chỉ là người làm chứng việc giao nhận tiền. Nên đề nghị Hồi đồng xét xử “Sửa bản án sơ thẩm”, chấp nhận kháng cáo của ông V1, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông V1 chịu trách nhiệm liên đới trả nợ.

Luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (Luật sư Hồ Thị T1):

Theo nội dung Giấy mượn nợ giữa Công ty T5 và ông Nguyễn Thái Tcó thể hiện việc nếu quá thời hạn trả nợ nhưng bên B không trả thì bên B và bên C sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ông V1 tham gia giao dịch với vai trò là người chứng kiến và người chịu trách nhiệm. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông V1 liên đới chịu trách niệm trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ.

Tại phiên tòa, ông T2 cũng khai nhận việc ông T2 giao tiền cho ông V1 để trả cho ông T nhưng đến thời điểm hiện nay ông T chưa nhận được khoản tiền nào từ phía ông V1.

Việc mượn tiền giữa hai bên không có thỏa thuận về lãi suất nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi suất theo quy định của pháp luật là có căn cứ. Thời hiệu tính lãi được xác định từ thời điểm ông T gửi các đơn thư tố cáo đến các cơ quan chức năng.

Từ những lý do trên, đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về nghĩa vụ trả nợ gốc 2.500.000.000 đồng là lãi suất chậm trả là có căn cứ. Riêng, về trách nhiệm liên đới nhận thấy: Mặc dù nội dung Giấy mượn tiền ghi nhận “Quá thời hạn mà Công ty T5 chưa trả tiền thì Công ty T5 và ông V1, ông T4 hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Nhưng, không ghi nhận là trách nhiệm gì và có nghĩa vụ liên đới với Công ty T5 để trả nợ cho ông T hay không? Ông T không cung cấp được chứng cứ chứng minh trách nhiệm liên đới, trách nhiệm bảo lĩnh. Nên kháng cáo của ông V1 có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Sửa án sơ thẩm” theo hướng nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần T5(có ông Bùi Lương T2 đại diện theo pháp luật) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1 trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, của đương sự khác và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Nguyên đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung yêu cầu bị đơn Công ty cổ phần T5 (gọi tắt là Công ty T5) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông/bà Bùi Phước T3, Nguyễn Thị Mỹ H1,Nguyễn Hồ Thân Vlcó nghĩa vụ liên đới trả tiền vay và lãi suất theo Giấy mượn tiền ngày 12/9/2016. Trong đó: địa chỉ trụ sở của bị đơn tại địa giới hành chính quận N nên Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không kháng cáo. Riêng, bị đơn Công ty cổ phần T5 (có ông Bùi Lương T2 đại diện theo pháp luật) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1 kháng cáo bản án đã tuyên.

Cụ thể như sau:

[3.1] Bị đơn Công ty cổ phần T5(có ông Bùi Lương T2đại diện theo pháp luật) cho rằng: khoản tiền giao dịch là tiền mượn, thời hiệu tính lãi không phù hợp quy định pháp luật; đồng thời, quá trình làm việc tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn viết cam kết trả nợ số tiền gốc 2.5000.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng), không yêu cầu bị đơn phải trả lãi (thực tế, nguyên đơn giữ bản gốc cam kết). Nên bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên bố không tính lãi suất đối với số tiền 2.500.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ.

[3.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1 cho rằng: Căn cứ Giấy mượn tiền cũng như lời khai của ông Bùi Lương T2thì xác định bị đơn có nợ nguyên đơn 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng); nhưng đây là tiền mượn, thời hiệu tính lãi không phù hợp quy định pháp luật. Nên ông V1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xác định ông không có trách nhiệm liên đới với bị đơn Công ty T5 về việc trả nợ cho nguyên đơn.

[4] Về thủ tục tố tụng (tại cấp phúc thẩm):

Tại phiên tòa, vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn (Luật sư Cao Thị Kim H)và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Phước T3(trong đó: ông T3 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt). Tuy nhiên, theo ông T2 (người đại diện theo pháp luật của bị đơn) xác định: ông có liên hệ và Luật sư H không thể tham dự phiên tòa hôm nay, theo đó ông trực tiếp tham gia và tự bảo vệ quyền lợi

ích hợp pháp của bị đơn, đồng ý vắng mặt Luật sư H. Căn cứ sự tự định đoạt của đương sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án (vắng mặt Luật sư H và người liên quan ông T3) theo quy định tại Điều 5, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, yêu cầu của đương sự và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chỉ xem xét phần có kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bên đương sự có yêu cầu, ý kiến khác nhau về khoản tiền vay/mượn và cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan nên cần xem xét toàn diện trong tổng thể tình tiết của án. Trong đó: có Giấy mượn tiền thiết lập ngày 12/9/2016 (Bút lục: 119).

Dẫn chiếu nội dung Giấy mượn tiền thể hiện:

1/ Bên cho mượn tiền (bên A):

Ông Nguyễn Thái T.

2/ Bên mượn tiền (bên B):

Công ty cổ phần T5.

- Ông Bùi Lương T2.

- Bà Nguyễn Thị Mỹ H1.

- Ông Bùi Phước T3.

3/ Bên chứng kiến và chịu trách nhiệm (bên C):

- Ông Lê Xuân T4.

- Ông Nguyễn Hồ Thân V1.

Nội dung:

Bên A đồng ý cho bên B mượn số tiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).

Thời gian cho mượn là: 30 (ba mươi) ngày từ ngày 12/9/2016 đến ngày 12/10/2016 bên B phải hoàn trả lại số tiền mượn nêu trên cho bên A.

Quá thời hạn mà bên B chưa hoàn trả lại cho bên A, thì bên B và bên C hoàn toàn chịu trách nhiệm trách nhiệm trước pháp luật.

(Ký và ghi rõ họ tên của từng người từng bên lần lượt là Nguyễn Thái T; Bùi Lương T2, Nguyễn Thị Mỹ H1, Bùi Phước T3; Lê Xuân T4, Nguyễn Hồ Thân V1).

Các bên đương sự tham gia tố tụng đều thừa nhận nội dung được thiết lập theo Giấy mượn tiền (nêu trên) nên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Xét kháng cáo của đương sự:

[7.1] Thứ nhất, đối với kháng cáo của bị đơn Công ty T5 (có ông T2 đại diện theo pháp luật):

Qua nội dung được ghi nhận theo Giấy mượn tiền thể hiện và sự thừa nhận của các bên cho thấy: ông T là người giao tiền, phía bị đơn là người đã nhận tiền, trong đó: tiền là tài sản nhưng không là tài sản không tiêu hao (khoản 2 Điều 112 Bộ luật Dân sự năm 2015) nên không là đối tượng của giao dịch về mượn tài sản theo quy định tại Điều 495 Bộ luật Dân sự. Do đó, giao dịch này thỏa mãn về Hợp đồng vay tài sản (tiền) có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại các Điều 463, khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự. Nên bên vay có nghĩa vụ phải trả đủ tiền khi đến hạn (đối với số nợ gốc 2.500.000.000 đồng(1) ) theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Thực tế, khi đến hạn bị đơn không trả nợ (kể từ sau ngày đến hạn 12/10/2016) và nguyên đơn có đơn khởi kiện (lần đầu) vào ngày 09/7/2019 và được Tòa án thụ lý ngày 13/8/2019 (Bút lục: 116 – 117) là đảm bảo thời hiệu về Hợp đồng (03 năm) theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự. Quá trình giải quyết, theo sự lựa chọn của đương sự: vụ án được đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra xem xét góc độ vụ việc theo thẩm quyền và tranh chấp liên tục cho đến nay nên khoảng thời gian trên được xác định là trở ngại khách quan, không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự. Qua những tình tiết đã nêu là cơ sở xác định đáp ứng điều kiện liên tục về thời hiệu nên nguyên đơn yêu cầu trả lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng và việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời gian chịu lãi kể từ ngày 13/10/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm (02/8/2024) với số tiền lãi là: 2.5000.000.000 đồng x 0,83%/tháng (10%/năm) x 2.850 ngày = 1.971.250.000 đồng(2) là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Do đó, tổng số tiền gốc và lãi nguyên đơn được chấp nhận là:

(1) + (2) = 2.5000.000.000 đồng + 1.971.250.000 đồng = 4.471.250.000 đồng.

[7.2] Thứ hai, đối với kháng cáo của người liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1:

[7.2.1] Về trách nhiệm liên đới, nhận thấy:

- Một, đối với bên vay (bị đơn Công ty T5) bao gồm những người thuộc Hội đồng cổ đông cùng tham gia ký kếtlà các ông/bà Bùi Lương T2,Nguyễn Thị Mỹ H1,Bùi Phước T3.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T2 (đại diện theo pháp luật của Công ty T5) xác định: vào thời điểm vay tiền, Công ty T5 đã rơi vào tình trạng khó khăn về kinh tế và Công ty dừng hẳn mọi hoạt động từ năm 2017 cho đến nay, nhưng chưa nộp thủ tục tuyên bố phá sản và thực tế có những tranh chấp phát sinh nên Công ty cũng không thể nộp thủ tục để được được xem xét phá sản. Việc Công ty T5 đã rơi vào tình trạng khó khăn về kinh tế vào thời điểm vay tiền cũng được ông Đ (đại diện theo ủy quyền của bà H1) xác định tại phiên tòa phúc thẩm. Điều này cũng phù hợp với diễn biến thực tế; bởi lẽ, con dấu và các giấy tờ pháp lý là xương sống trong đa phần các giao dịch cho Doanh nghiệp, nhưng bị đơn đã chuyển giao cho nguyên đơn để làm tin khi thiết lập giao dịch vay tiền này. Trong khi, Công ty T5 gồm các cổ đông với tương ứng vốn góp là Bùi Lương Thạnh 5, Nguyễn Thị Mỹ H1 25%, Bùi Phước T3 21%. Bên cạnh đó, việc các cổ đông không chỉ cùng ký tên thiết lập trong văn bản mang tiêu đề “Giấy mượn tiền” mà cùng ngày Công ty T5

đã tiến hành họp Hội đồng cổ đông có Biên bản kèm theo thể hiện: các cổ đông thống nhất 100% về số tiền vay và thời hạn trả nợ (Bút lục: 118).

Nên với nghĩa vụ của Công ty T5 thì các cổ đông (T2, H1, T3) phải chịu trách nhiệm liên đới về khoản nợ của Công ty tương ứng phần trong phạm vi số vốn đã góp vào Doanh nghiệp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp.

Tuy nhiên, sau khi cấp sơ thẩm tuyên “Không chấp nhận yêu cầu buộc bà H1, ông T3 liên đới trả nợ cho ông T”, ông T và Công ty T5 đều không kháng cáo vấn đề này nên đã phát sinh hiệu lực và có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên theo quy định tại Điều 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7.2.2] Hai, đối với bên chứng kiến và chịu trách nhiệm (bên C) gồm ông Lê Xuân T4, ông Nguyễn Hồ Thân V1:

Nhận thấy: Tại đoạn cuối văn bản mang tiêu đề “Giấy mượn tiền” ghi nhận “Quá thời hạn mà bên B chưa hoàn trả lại cho bên A, thì bên B và bên C hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Thực tế trong vụ án, quá thời hạn thỏa thuận theo thời hạn cuối là ngày 12/10/2016 nhưng bị đơn không hoàn trả được bất kỳ khoản tiền nào cho nguyên đơn (như sự thừa nhận của ông T2). Như vậy, đối chiếu thỏa thuận trên thì trách nhiệm của ông Lê Xuân T4, ông Nguyễn Hồ Thân V1 phát sinh. Song, trách nhiệm như thế nào được xem xét, đánh giá chung trong tổng thể các tình tiết của vụ việc như sau:

Phía đại diện ông V1 và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông V1 cùng cho rằng: Việc ghi nhận “bên B và bên C hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật” chỉ đơn thuận trách nhiệm làm chứng là hoàn toàn không phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án. Bởi lẽ, qua lời trình bày và sự thừa nhận của các đương sự cho thấy: ông V1 có quan hệ là vợ chồng với bà Nguyễn Thị Mỹ H1 (bà H1 là cổ đông Công ty T5), bên cạnh việc hiểu rõ tình trạng khó khăn về kinh tế của Công ty T5, ông V1 là người giới thiệu Công ty T5 vay tiền của ông T. Thực tế, ông T không có mối quan hệ làm ăn, quen biết với Công ty T5 trước đó, chỉ qua giới thiệu của ông V1 (ông V1 và ông T có quan hệ anh em họ); đối với ông T4, theo ông T2 xác định tại phiên tòa phúc thẩm: ông T4 là người của Công ty X (đang có sự hợp tác làm ăn với Công ty T5 và sau khi vay/mượn tiền của ông T đã chuyển giao toàn bộ cho Công ty X). Nên có căn cứ tin việc khi thiết lập giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn với bị đơn có sự chứng kiến và xác định trách nhiệm của bên thứ ba (ông T4, ông V1) để đảm bảo cho giao dịch diễn ra.

Đối chiếu các quy định liên quan cho thấy: Sự ràng buộc tình tiết “Quá thời hạn mà bên B chưa hoàn trả lại cho bên A...” được xem là tương đồng với quy định pháp luật về bảo lãnh tại Điều 335 Bộ luật Dân sự nên cần thiết áp dụng tương tự pháp luật trong trường hợp này để đảm bảo cho lẽ công bằng được thực thi. Như vậy, trong trường hợp bảo lãnh: bên cho vay có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ. Song, trong vụ án này, nguyên đơn yêu cầu đồng thời trách nhiệm liên đới giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh cùng thực hiện nghĩa vụ được xem là dung hòa cho người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm

với bên giao dịch trực tiếp (bên vay) và người cam kết hứa hẹn (bên bảo lãnh) nên được chấp nhận.

Mặc dù được xác định trách nhiệm liên đới của những người có nghĩa vụ, nhưng trách nhiệm phải theo phần tương ứng mỗi người. Theo đó, từng phần được xác định như sau:

1/ Công ty T5.

2/ Ông Lê Xuân T4.

3/ Ông Nguyễn Hồ Thân V1.

Nên mỗi người/mỗi bên phải gánh chịu 1/3 trên nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu về trách nhiệm đối với ông T4 – Vấn đề này là sự từ bỏ quyền yêu cầu của nguyên đơn khi ông T4 có điều kiện đảm bảo thực hiện hơn (chẳng hạn), nhưng đây là sự tự định đoạt của nguyên đơn nên không đặt ra xem xét với ông T4.

Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đều thừa nhận thống nhất chịu trách nhiệm trả nợ cho toàn bộ khoản nợ vay gốc 2.500.000.000 đồng, chỉ không đồng ý trả lãi. Góc độ nguyên đơn không đồng ý riêng trách nhiệm của bị đơn nên không có cơ sở thỏa mãn ý chí này của riêng bị đơn.

Với những lý do như đã phân tích, cần thiết buộc trách nhiệm của Công ty T5 02 phần trên nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là: (4.471.250.000 đồng : 03) x 02 phần = 2.980.833.300 đồng.

Và trách nhiệm của ông V1 thuộc 01 phần trên nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là: (4.471.250.000 đồng : 03) x 01 phần = 1.490.416.666 đồng (làm tròn 1.490.416.700 đồng).

[8] Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, việc không xác định trách nhiệm liên đới theo phần là chưa phù hợp, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của đương sự (trong đó bao gồm cả nghĩa vụ chịu án phí tương ứng) nên cấp phúc thẩm điều chỉnh tương ứng về nghĩa vụ này. Nên cần thiết bổ sung cụ thể trong quyết định của bản án. Song, việc thực hiện nghĩa vụ liên đới được đảm bảo theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự.

Như vậy, bị đơn Công ty T5 và người liên quan ông V1 kháng cáo của nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.

[9] Việc nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung (Bút lục: 44 - 45), mặc dù không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí bổ sung. Nhưng, yêu cầu trả nợ với số tiền đã thực hiện tạm ứng án phí giá ngạch ban đầu nên được xem là trong phạm vi khởi kiện. Theo đó, phía những người có liên quan đến yêu cầu khởi kiện bổ sung biết được sự việc và đã có các Bản tự khai nói rõ về ý kiến của mình đối với yêu cầu bổ sung này của nguyên đơn. Nên được xem xét giải quyết chung

trong vụ án và không là vi phạm thủ tục tố tụng để đặt vấn đề hủy án sơ thẩm ra xem xét.

[10] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận của bị đơn Công ty T5 và người liên quan ông V1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đồng thời, việc sửa án dẫn đến án phí sơ thẩm cũng được điều chỉnh theo quy định về nghĩa vụ phải chịu án phí tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án.

Cụ thể:

- Bị đơn phải chịu án giá ngạch đối với nghĩa vụ trả số tiền tương ứng cho nguyên đơn là:

72.000.000 đông + 2% (2.980.833.300 đồng – 2.000.000.000 đồng) = 91.616.666 đồng (làm tròn 91.616.700 đồng).

- Người liên quan ông V1 phải chịu án giá ngạch đối với nghĩa vụ trả số tiền tương ứng cho nguyên đơn là:

36.000.000 đồng + 3% (1.490.416.700 đồng – 800.000.000 đồng) = 56.712.501 đồng (làm tròn 56.712.500 đồng).

- Đối với nguyên đơn được xem là chấp nhận về số tiền cụ thể theo yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí.

[11] Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc nên không xem xét. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh về cách tuyên. Cụ thể:

Việc tuyên “Đối với các giấy tờ mà Công ty T5 giao cho ông T giữ (theo biên bản ngày 12/9/2016), ông T2 khai đã nhận lại các giấy tờ trên nên không xem xét giải quyết” không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên nên không cần thiết tuyên trong phần quyết định của bản án. Trong trường hợp sự việc diễn biến trong quá trình giải quyết vụ án chỉ cần ghi nhận tại Phần “Nhận định của Tòa án” là đã đảm bảo toàn diện. Nên cấp phúc thẩm điều chỉnh trong khuôn khổ luật định, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung.

[12] Từ những phân tích trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp toàn bộ.

Luận cứ của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông V1 được Hội đồng xét xử cân nhắc chấp nhận từng phần đối với những lý lẽ lập luận đúng đắn để giải quyết vụ án toàn diện như trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 và khoản 2 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần T5 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 189/2022/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (có điều chỉnh về cách tyên và bổ sung từng số tiền cụ thể).

Áp dụng:

- Các Điều 6, 463, 466 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái T.

Buộc Công ty cổ phần T5 và ông Nguyễn Hồ Thân V1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Thái T số tiền là 4.471.250.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng; gồm: 2.500.000.000 đồng tiền gốc và 1.971.250.000 đồng tiền lãi).

Trong đó:

- Công ty cổ phần T5 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 2.980.833.300 đồng (Hai tỷ chín trăm tám mươi triệu tám trăm ba mươi ba ngàn ba trăm đồng).

- Ông Nguyễn Hồ Thân V1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 1.490.416.700 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi triệu bốn trăm mười sáu ngàn bảy trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự:

- Án phí sơ thẩm:

+ Công ty cổ phần T5 phải chịu 91.616.700 đồng (Chín mươi mốt triệu sáu trăm mười sáu ngàn bảy trăm đồng).

+ Ông Nguyễn Hồ Thân V1phải chịu56.712.500 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm mười hai ngàn năm trăm đồng).

+ Ông Nguyễn Thái T được nhận lại 56.111.200 đồng (Năm mươi sáu triệu một trăm mười một ngàn hai trăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000320 ngày 18/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Án phí phúc thẩm:

Công ty cổ phần T5 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồ Thân V1, mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0001778 và số 0001779 cùng ngày 16/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thành án phí phải chịu (đã thực hiện xong).

3. Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên thi hành theo phần quyết định của bản án sơ thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trang Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 38/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger