|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-PT Ngày: 05/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và Ông Phạm Trung Thực.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLPT-HS ngày 11/04/2024 đối với các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A và Trần Đình H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Vũ Trường G, sinh ngày 21/8/2005, tại: Phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Số C T, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc H1; con bà Dương Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/12/2022, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng; bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/5/2023; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
Người đại diện cho bị cáo G: Bà Dương Thị S, sinh năm 1983 (là mẹ đẻ); địa chỉ: Thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Trường G: Ông Phạm Đức L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; vắng mặt.
2. Họ và tên: Trần Hữu B, sinh ngày 12/3/2006, tại: Xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T; con bà Trần Sinh H2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo B: Bà Trần Sinh H2, sinh năm 1983 và ông Trần Văn T, sinh năm 1979 (là bố, mẹ đẻ bị cáo); nơi cư trú: Thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (có mặt mẹ bị cáo)
Người bào chữa cho bị cáo Trần Hữu B: Ông Phạm Đức L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; vắng mặt.
3. Họ và tên: Mai Tuấn A, sinh ngày 29/4/2005; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn T, Xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: Thôn C, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn C1; con bà: Nguyễn Thị Bích L1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Tại bản án số 48/2021 ngày 14/12/2021, bị TAND thành phố Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Cố ý gây thương tích, (thực hiện hành vi phạm tội ngày 06/5/2021, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Tuấn A1 chưa đủ 18 tuổi); tiền sự: Ngày 07/12/2022, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng; nhân thân: Ngày 01/8/2021, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; bị tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến ngày 19/6/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.
4. Họ và tên: Trần Đình H, sinh năm: 2003, tại: Xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Số A V, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Tùng L2; con bà: Vũ Thị Ngọc L3; vợ, con: Chưa có; tiền án: Chưa; tiền sự: Ngày 07/12/2022, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng và mang theo công cụ, phương tiện có khả năng sát thương nhằm gây thương tích cho người khác; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 31/5/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình H: Ông Trần Viết H3 và ông Hà Đắc H4 - Văn phòng L5, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn V, sinh ngày 15/01/2007.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Thị L4 (là mẹ đẻ bị hại)
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (Đều vắng mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Hoàng Thị L4, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
2. Bà Vũ Thị Ngọc L3, sinh năm 1972; địa chỉ: Đường V, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
3. Bà Dương Thị S, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
4. Bà Đào Thị Thu H5, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
5. Ông Ngô Văn Á, sinh năm 1974; địa chỉ: Đường B, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
6. Ông Cao Xuân T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số F Đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
7. Bà Bùi Thị S1, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn C, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
8. Bà Trần Sinh H2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
9. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
10. Anh Dương Quang H6, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
11. Anh Phạm Văn H7, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 29/01/2023, Ngô Hoàng Việt A2, Trần Hữu B, Vũ Trường G, đang ngồi chơi tại nhà Việt A2 thì G kể chuyện “hôm qua em có xích mích với nhóm của thằng T2 dưới T”. Đến tối cùng ngày, G và B mua đồ ăn về nhà Việt A2 để cùng nhau ăn tối. Sau khi ăn xong, B và G đi ra khu vực bờ hồ B, thuộc phường M, thành phố H uống nước, còn Việt A2 ngồi chơi ở nhà. Tại đây, G kể lại việc mâu thuẫn với một thanh niên tên là T2 ở huyện T cho Mai Tuấn A, Cao Bá S2, Trần Đình H, Đào Phúc N và Vũ Hồng Q nghe rồi rủ cả nhóm đi xuống huyện T tìm nhóm của T2 để đánh thì tất cả đồng ý (G không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T2 như thế nào). Sau đó G, B, Tuấn A1, S2, H cùng quay lại nhà Việt A2, một lúc sau thì N và Q cũng đến nhà Việt A2. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, G nói với cả nhóm “đi thôi” ý rủ cả nhóm xuống huyện T tìm nhóm của T2 để đánh thì cả nhóm đồng ý. Việt A2 đi vào trong tủ quần áo ở phòng ngủ của mình lấy 02 con dao phớ được đựng trong 01 bao tải dứa màu trắng rồi mang ra để ở cửa nhà (trong đó: 01 con dao dài 87cm, chuôi bằng gỗ màu vàng dài 24cm, vỏ bằng gỗ màu vàng dài 71cm, lưỡi dao màu trắng dài 64cm, bản rộng nhất là 08cm, đầu dao nhọn và con dao còn lại dài khoảng 80cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu đen, đầu dao nhọn).
Lúc này, B gọi điện cho Dương Quang H6 hỏi mượn phóng lợn thì H6 đồng ý. Bá điều khiển xe máy chở G và H đi đến khu vực gần cổng Công ty M, thuộc phường A, thành phố H để lấy 02 phóng lợn mà H6 cho mượn. Sau khi mượn được phóng lợn, B tiếp tục điều khiển xe chở G và H mang 02 phóng lợn đi đến đoạn đê M, thuộc phường M, thành phố H cất giấu vào bụi rậm ở vệ đê rồi quay lại nhà Việt A2. Từ nhà Việt A2, Q điều khiển xe máy chở Việt A2, S2 điều khiển xe máy chở B, Tuấn A1 điều khiển xe máy chở G cầm theo bao tải bên trong đựng 02 dao phớ, N điều khiển xe máy chở H cùng đi đến đoạn đường Đ thì dừng lại. B đi ra vị trí cất giấu lấy 02 phóng lợn vừa cất giấu lúc trước ra đưa cho H cầm 01 phóng lợn, còn tự mình cầm 01 cái. Việt A2 và G chia nhau mỗi người cầm 01 dao phớ. Cả nhóm cùng bịt khẩu trang, trùm mũ áo khoác lên đầu rồi điều khiển xe đi từ đê M theo đường Quốc lộ 38B đến huyện T để tìm nhóm của T2 đánh nhau. Khi đi đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ Phố G, thuộc thị trấn V, huyện T thì cả nhóm thấy anh Nguyễn Văn V đang điều khiển xe máy ở ngã ba gần đó, nghĩ anh V là người thuộc nhóm của T2 nên cả nhóm rẽ vào ngã ba để ép xe của anh V vào lề đường. N chở H đi đầu tiên ép xe của anh V vào lề đường thì S2 điều khiển xe chở B, Q điều khiển xe chở Việt A2 và Tuấn A1 điều khiển xe chở G cũng đi đến. Bá xuống xe cầm phóng lợn đâm về phía tay phải của anh V, anh V né ra nên xe bị đổ ra lề đường. Thấy vậy, Việt A2 xuống xe cầm dao phớ tiến lại gần anh V thì anh V nói “thôi anh ơi” nhưng Việt A2 vẫn dùng tay phải cầm dao phớ giơ lên chém 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía anh V, anh V giơ tay trái lên đỡ nên bị chém trúng cổ tay trái. Bá tiếp tục lao vào dùng phóng lợn chém nhiều nhát về phía anh V nhưng không trúng. Thấy anh V bỏ chạy theo hướng ra Bưu điện huyện T thì Việt A2 và B đuổi theo tiếp tục dùng dao phớ và phóng lợn chém nhiều nhát về phía anh V nhưng đều không trúng. Anh V bỏ chạy sang đường thì được 02 người đàn ông đang đi 01 xe máy dừng đèn đỏ chở bỏ chạy về hướng xã N, huyện T Thấy anh V đã chạy thoát thì Việt A2 và B không đuổi theo nữa rồi quay lại vị trí mọi người đang đứng và cùng cả nhóm đi về. Khi đến đê M, B lấy lại phóng lợn đã đưa cho H sau đó cất giấu 02 phóng lợn ở vệ đê, G cũng vứt 01 dao phớ ở vệ đê, còn Việt A2 cầm 01 dao phớ về nhà cất giấu. Anh V được 02 người đàn ông chở đến nhà văn hóa thôn T, xã N, sau đó được gia đình đưa đến Bệnh đa khoa tỉnh Hưng Yên và Bệnh viện V1 khám và điều trị vết thương. Ngày 30/01/2023, anh V và gia đình có đơn đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định.
Đến ngày 01/02/2023, Trần Đình H đến Công an huyện T tự thú, thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và đồng phạm. Cùng ngày, Ngô Hoàng Việt A2, Trần Hữu B, Cao Bá S2, Vũ Trường G, Đào Phúc N, Mai Tuấn A, Vũ Hồng Q đến trụ sở Công an huyện T làm việc theo giấy triệu tập của Cơ quan Cảnh sát điều tra và giao nộp 02 phóng lợn, 01 con dao phớ, là công cụ cả nhóm sử dụng trong quá trình gây thương tích cho anh V. Riêng Cao Bá S2 sau đó đã bỏ trốn, đến ngày 17/6/2023 S2 ra đầu thú;
Tại bản Kết luận giám định số 79/2023/TgT-BS ngày 15/5/2023 của Trung tâm Pháp y và Giám định y khoa tỉnh H đối với thương tích của anh Nguyễn Văn V kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 50%. Áp dụng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
Cơ chế hình thành thương tích vùng cổ tay trái là do dạng vật sắc nhọn gây nên, vùng mắt cá trong cổ chân phải là do chà xát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên.
Tại bản kết luận giám định số 998/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của V2 - Bộ C2 kết luận: Các dấu vết nghi máu bám dính trên đầu các que tăm bông (ký hiệu A1 và A2) gửi giám định đều là máu người và đều là máu của Nguyễn Văn V.
Tại bản kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: 01 dao phớ đã thu giữ là vũ khí thô sơ; 02 phóng lợn đã thu giữ đều là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ.
Đối với Dương Quang H6: Quá trình điều tra bị Trần Hữu B khai nhận khi mượn phóng lợn thì B nói cho H6 biết mục đích mượn phóng lợn để đi đánh nhau. H6 không thừa nhận nội dung như B trình bày. Cơ quan Điều tra đã tiến hành đối chất giữa B và H6, kết quả các bên đều giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra. Do vậy không đủ căn cứ xác định H6 đồng phạm với các bị cáo về tội Cố ý gây thương tích nên không xem xét xử lý.
Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T thu giữ: 01 dao phớ vỏ bằng gỗ màu vàng; 02 phóng lợn, (01 phóng lợn dài 2,7m, 1 phóng lợn dài 2,15m).
Đối với 01 con dao phớ, quá trình điều tra Vũ Trường G khai nhận sau khi sự việc xảy ra đã ném ở đoạn vệ đê M, thuộc phường M, thành phố H. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành truy tìm vật chứng đối với con dao phớ trên nhưng không tìm thấy.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại Nguyễn Văn V và bà Hoàng Thị L4 (là người chăm sóc anh V trong quá trình điều trị vết thương) tổng số tiền 15.000.000 đồng; bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường riêng cho anh V và bà L4 tổng số tiền 250.000.000 đồng. Anh V và bà L4 đã nhận đủ tiền bồi thường và đều không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 29 tháng 2 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A, Trần Đình H đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 điều 52, Điều 17; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 BLHS đối với bị cáo Vũ Trường G.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 BLHS đối với bị cáo Trần Hữu B.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; điều 56 Điều 58 ; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 BLHS BLHS đối với bị cáo Mai Tuấn A.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54 và Điều 58 BLHS đối với bị cáo Trần Đình H.
- Xử phạt:
Xử phạt bị cáo Vũ Trường G 4 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 31/5/2023.
Xử phạt bị cáo Mai Tuấn A 4 năm tù. Tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại chưa thi hành (87 : 3 = 29 ngày tù), sau khi quy đổi thành 29 ngày tù tại Bản án số 48/2021/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 04 năm 29 ngày tù, được trừ thời gian tạm giam 20 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 04 năm 09 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu B 04 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Đình H 02 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo không kháng cáo là Ngô Hoàng Việt A2, Vũ Hồng Q, Cao Bá S2, Đào Phúc N, về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Mai Tuấn A, Trần Hữu B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Vũ Trường G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị giám định lại thương tật cho người bị hại là anh Nguyễn Văn V; bị cáo Trần Đình H kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Mai Tuấn A, Trần Hữu B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo Vũ Trường G thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX cho xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Trần Đình H thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét lại hình phạt của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận đã thay mặt bị cáo bồi thường cho bị hại và không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo H trình bày: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, tham gia vụ án với vai trò đồng phạm nên đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A, Trần Đình H trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 29/01/2023, tại khu vực vườn hoa ngã tư Phố G, thuộc địa phận thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên, Vũ Trường G, Ngô Hoàng Việt A2, Trần Hữu B, Cao Bá S2, Trần Đình H, Đào Phúc N, Mai Tuấn A và Vũ Hồng Q đã có hành vi điều khiển xe máy, ép xe làm xe máy của anh Nguyễn Văn V bị đổ. Sau đó, B dùng phóng lợn đâm, Việt A2 dùng dao phớ chém về phía anh V, khi anh V đưa tay trái lên đỡ thì bị Việt A2 chém trúng cổ tay trái. Hậu quả: Anh V bị thương tích, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 50%. Hành vi của các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A, Trần Đình H và các đồng phạm khác đã có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xét xử, tuyên phạt các bị cáo theo nội dung bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, dùng hung khí nguy hiểm, vô cớ đuổi đâm, chém gây thương tích cho bị hại với tỉ lệ tổn thương 50%, đây là hành vi rất coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe người khác, làm ảnh hưởng rất xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình và hoang mang, lo lắng cho người dân. Do đó cần thiết phải đưa ra xét xử và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã thực hiện để trừng trị tội phạm và răn đe phòng ngừa.
[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:
- Đối với bị cáo Vũ Trường G: Tại biên bản giao nhận Bút lục số 94, bị cáo G đã nhận được Thông báo kết luận giám định số 294/TB-CQĐT, từ giai đoạn điều tra cho tới giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo không thực hiện quyền khiếu nại Thông báo kết luận giám định, do vậy yêu cầu của bị cáo về việc giám định lại thương tích đối với bị hại không có căn cứ chấp nhận. Về yêu cầu giảm nhẹ hình phạt, khi thực hiện tội phạm bị cáo là người khởi xướng và lôi kéo người khác phạm tội, là nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Mức án 04 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, do vậy kháng cáo của bị cáo G không có căn cứ chấp nhận.
- Đối với bị cáo Trần Hữu B: Bị cáo cùng Ngô Hoàng Việt A2 là người thực hành tích cực nhất, mặc dù không có nguyên cớ nhưng đã đuổi đánh, dùng hung khí nguy hiểm liên tục đâm nhiều nhát về phía bị hại, tuy không trúng nhưng đã cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách quyết liệt, việc không trực tiếp gây thương tích cho bị hại là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Mức án 04 năm tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, do đó kháng cáo của bị cáo B không có căn cứ chấp nhận.
- Đối với bị cáo Mai Tuấn A: Bị cáo tuy không trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại, nhưng bị cáo là giúp sức, dùng xe máy chở bị cáo G, mang theo hung khí tham gia cùng các đồng phạm. Bị cáo có đã có tiền án về tội Cố ý gây thương tích; có tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng; có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Bị cáo phạm tội mới tại thời điểm bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt của Bản án số 48/2021/HS-ST ngày 14/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, do đó cần phải tổng hợp hình phạt mà bị cáo chưa chấp hành để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung, Bản án số 48 kết tội bị cáo khi bị cáo chưa đủ 18 tuổi, do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm”. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, vì vậy kháng cáo của bị cáo Tuấn A1 không có căn cứ chấp nhận.
- Đối với bị cáo Trần Đình H: Bị cáo tham gia trong vụ án này với vai trò đồng phạm giúp sức, tuy không trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại, nhưng là người cầm theo “phóng lợn” ngồi sau xe của bị cáo N, ép xe máy của bị hại vào lề đường để các bị cáo khác gây thương tích. Tại giai đoạn sơ thẩm, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, thể hiện ý thức khắc phục hậu quả rất tích cực, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo thành khẩn khai báo, có ông bà nội được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, nên cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn là 02 năm tù.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm Đơn xin xác nhận bị cáo từng tố giác tội phạm có xác nhận của Công an xã T; Đơn xin xác nhận bị cáo chấp hành nghiêm pháp luật trong quá trình được tại ngoại có xác nhận của Công an phường L; Đơn xin xác nhận bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật, tích cực tham gia tố giác tội phạm, đã chấp hành xong thời gian xử phạt hành chính hành vi Gây rối trật tự công cộng có xác nhận của chính quyền địa phương; Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo của bị hại V và bà L4. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nên không có căn cứ để giảm thêm hình phạt đối với bị cáo. Về nội dung xin hưởng án treo, do bị cáo đang có tiền sự mà lại phạm tội mới nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP. Do đó, kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay mặt bị cáo đã bồi thường cho bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.
Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A và Trần Đình H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 điều 52, Điều 17; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Trường G 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 31/5/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu B 04 (bốn) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 56; Điều 58; Điều 90, 91, 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Tuấn A 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại chưa thi hành tại Bản án số 48/2021/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, sau khi quy đổi thành 29 ngày tù (87:3=29). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 04 năm 29 ngày tù, được trừ thời gian tạm giam 20 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 04 năm 09 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình H 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án .
- Về án phí: Các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A, và Trần Đình H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm hình sự.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Trường G, Trần Hữu B, Mai Tuấn A và Trần Đình H phạm tội Cố ý gây thương tích.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 38/2024/HS-PT ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 38/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
