Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSST

Ngày: 24/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trần Ánh Hồng và Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Ngọc L - sinh năm: 1977; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 1 P, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên cha: Phạm Văn L1, sinh năm: 1945; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; Vợ: Phùng Thị Phương T, sinh năm 1983; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2022; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Người bị hại: Ông Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1949, HKTT: Om Làng, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình (đã chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1954 (Vợ bị hại Nguyễn Xuân L2). Có đơn xin xét xử vắng mặt

Trú tại: O, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

  • + Anh Nguyễn Thanh L3, sinh năm 1981 (Con trai của bị hại Nguyễn Xuân L2). Có đơn xin xét xử vắng mặt

Trú tại: O, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T3.

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà L, số A Khu Ẩ, phường N, quận T, thành phố Hà Nội

- Đại diện theo pháp luật: Ông Chu Tiến T2 - Giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1986, HKTT: Khu G, T, huyện B, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc L, sinh năm 1977, HKTT: 1 P, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1986, HKTT: khu G, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội là các lái xe của công ty T3. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 17/11/2023, L và anh C nhận xe ô tô HUYNDAI, BKS 29H-88215 do công ty giao để thực hiện nhiệm vụ chở hàng khô từ kho của công ty tại thị xã S, thành phố Hà Nội đến siêu thị T4 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Công ty T3 bố trí 02 lái xe thay nhau để đảm bảo sức khỏe trên đường đi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi trả hàng xong tại siêu thị tại huyện Đ thì L và anh C quay về, anh C là người điều khiển xe. Khi đi đến huyện T, tỉnh Thanh Hóa thì anh C dừng xe để ăn uống và nghỉ ngơi. Sau đó, tiếp tục đi thì L chuyển sang lái xe còn anh C ngồi ghế bên phụ. L điều khiển xe di chuyển theo đường H để về S. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, L điều khiển xe theo hướng Thanh Hóa đi S, đi đến đoạn Km 444+500 đường H thuộc thôn O, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình (đây là đoạn đường có đặt biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên). Lúc này, L phát hiện ông Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1949,

HKTT: Om Làng, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình đang đi bộ sang đường (từ trái sang phải theo chiều xe đang đi), vừa đi vừa giơ hai tay ngang bằng vai. Do không chú ý quan sát nên khi L phát hiện ông L2 đi bộ sang đường thì khoảng cách giữa xe của L và ông L2 chỉ khoảng 20 mét, L không làm chủ được tốc độ, không kịp xử lý dẫn đến đâm vào ông L2. Hậu quả ông Nguyễn Xuân L2 chết.

* Khám nghiệm tử thi

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 137/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 27/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân bị chấn thương vùng: Đầu, mặt, cổ, ngực, vai, sườn, tay, chân do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: Vỡ xương hộp sọ, xương sống mũi, gãy nhiều xương sườn, gãy xương đùi và nhiều vết xây sát, rách da, bầm tím trên cơ thể nạn nhân. Kết luận: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não.

* Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản thực nghiệm điều tra thể hiện:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa tương đối phẳng, có vạch kẻ màu sơn vàng đứt quãng giữa tim đường chia làm hai chiều đi riêng biệt, chiều rộng lòng đường là 10,05 mét, có biển báo 207c - là biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên ở lề đường bên phải theo chiều Thanh Hóa đi Hà Nội. Toàn bộ hiện trường được đo về mép đường bên phải theo hướng Thanh Hóa đi Hà Nội. Cột điện có dòng chữ số VNPT/177 ở mép đường bên trái theo hướng Thanh Hóa đi Hà Nội được được lấy làm điểm mốc đo hiện trường.

Căn cứ vào các dấu vết để lại trên hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện, lời khai của bị cáo, kết quả thực nghiệm điều tra và hình ảnh ghi nhận từ camera xác định: Số (9) là điểm va chạm giữa xe ô tô BKS 29H-88215 và người đi bộ. Đo từ (9) vào mép đường là 3,1m; đến cột mốc là 13,2m; đến biển báo 207c là 101,5m.

* Kết quả giám định phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn, biên bản xét nghiệm chất ma túy đối với Phạm Ngọc L cho thấy:

Hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô BKS 29H-88215 còn tác dụng và đảm bảo an toàn kỹ thuật (Theo Kết luận giám định số 9213/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của V Bộ C1)

Phạm Ngọc L không có nồng độ cồn trong hơi thở, không sử dụng ma túy (Theo biên bản kiểm tra nồng độ cồn, biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 17/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đối với Phạm Ngọc L)

* Vật chứng liên quan đến vụ tai nạn giao thông gồm:

  • + 01 (một) xe ô tô BKS 29H-882.15, nhãn hiệu HYUNDAI. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là là Công ty TNHH T3.
  • + 01 (một) giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 17/02/2023 của Phạm Ngọc L; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1696782, 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tư nguyện xe ô tô số [...], 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS 29H-88215. Hiện được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị cáo Phạm Ngọc L đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Xuân L2 số tiền 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 34/CT - VKSLS ngày 02/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn đã truy tố Phạm Ngọc L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX Tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho phía gia đình bị hại tại giai đoạn điều tra số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

Về vật chứng: 01 (một) xe ô tô BKS 29H-882.15, nhãn hiệu HYUNDAI. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là là Công ty TNHH T3 nên không xem xét.

- 01 (một) giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 17/02/2023 của Phạm Ngọc L. Đây là tài liệu giấy tờ cơ quan Nhà nước cấp phép cho bị cáo nên cần trả lại

cho bị cáo Phạm Ngọc L theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1696782; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tư nguyện xe ô tô số [...]; 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS 29H-88215 chủ sở hữu là Công ty TNHH T3 nên trả lại cho Công ty theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Phạm Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan; xin được giảm nhẹ hình phạt, bị cáo xin được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, đại diện bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tội phạm xảy ra tại O, xã C huyện L, tỉnh Hòa Bình, bị cáo bị truy tố theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là 05 năm, theo quy định tại Điều 268, 269 Bộ luật tố tụng hình sự là thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại,người làm chứng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Đại diện hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Thanh L3; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Chu Tiến T2 - giám đốc Công ty TNHH T3, người làm chứng: anh Nguyễn Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong hồ

sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, yêu cầu bồi thường của họ cũng như các yêu cầu khác, việc họ vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án cùng như quyền và lợi ích hợp pháp của họ nên Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án

[ 2.1]. Về tội danh, điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, sơ đồ hiện trường khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 17/11/2023 tại Km 444+500 đường H thuộc thôn O, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Phạm Ngọc L khi điều khiển xe ô tô BKS 29H-88215, do không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ đã đâm vào ông Nguyễn Xuân L2 đang đi bộ sang đường từ trái qua phải (theo chiều xe L đang đi). Hậu quả vụ tai nạn làm ông Nguyễn Xuân L2 chết. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Phạm Văn 1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, biết rõ việc không tuân thủ quy định về tham gia giao thông là vi phạm pháp luật nhưng do chủ quan, thiếu trách nhiệm, thiếu quan sát, không tuân thủ về tốc độ xe: phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ nếu thấy người đi bộ; phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm và khi có người đi bộ sang đường. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến an ninh an toàn tại địa phương vi phạm khoản 5 Điều 4 “ Người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác..”; khoản 4 Điều 11 “………Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ qua đường bảo đảm an toàn. ”; khoản 1 Điều 12 “ Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường...” Luật giao thông đường bộ;

khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ" Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường... khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường". Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[2.2]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; tiền án, tiền sự: không.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường khắc phục hậu quả: bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân L2 số tiền 250.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đầu thú đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Ngọc L đã thực hiện và xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi bị cáo đang cư trú để quản lý, giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải cấm bị cáo hành nghề hoặc làm một công việc nhất định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại Nguyễn Xuân L2. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu gì thêm. Các bên đã thỏa thuận, giải quyết xong về trách nhiệm dân sự, không ai có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xe ô tô HUYNDAI, BKS 29H-88215 của Công ty TNHH T3 bị hư hỏng nhẹ, Công ty không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) xe ô tô BKS 29H-882.15, nhãn hiệu HYUNDAI. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH T3 nên HĐXX không xem xét
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 17/02/2023 của Phạm Ngọc L. Đây là tài liệu giấy tờ cơ quan Nhà nước cấp phép cho bị cáo. Hội đồng xét xử không cấm hành nghề đối với bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc L theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1696782; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tư nguyện xe ô tô số [...]; 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS 29H-88215 chủ sở hữu là Công ty TNHH T3 nên trả lại cho Công ty theo quy định tại Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 268, Điều 269, Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L 15 ( Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 ( Ba mươi ) tháng kể từ ngày tuyên án ( 24/5/2024)

Giao bị cáo Phạm Ngọc L cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Phạm Ngọc L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2/Về xử lý vật chứng:

* Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc L:

  • - 01 (một) giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 17/02/2023 mang tên Phạm Ngọc L

* Trả lại cho Công ty TNHH T3

  • - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1696782.
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số [...],
  • - 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS 29H-88215.

3/ Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/5/2024). Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án dược niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp HB;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình ;
  • - VKSND H. Lương Sơn;
  • - CA H. Lương Sơn;
  • - THADS H. Lương Sơn;
  • - UBND phường Lê Lợi ;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người liên quan
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( đã ký)

Chu Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST Phạm Ngọc Long " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger