Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Bản án số: 38/2024/HS-ST.

Ngày: 23 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Phú Hiên

Bà Ngô Thị Quốc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh T- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Trung H, sinh năm: 1990 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân C, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1966; vợ Chu Thị L, sinh năm: 1993, có 01 con sinh năm 2018.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    • Ngày 28/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum xử phạt 7 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Theo bản án số 28/2012/HSST ngày 28/11/2012); chấp hành xong ngày 05/01/2013.
    • Ngày 01/03/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Theo bản án số 15/2013/HSST ngày 01/3/2013); chấp hành xong ngày 10/7/2013.
    • Ngày 03/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Theo bản án số 62/2023/HSST). Ngày 20/12/2023, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm mức hình phạt đối với bị cáo (Theo bản án số 122/2023/HS-PT).

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/7/2022 theo Lệnh tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X để điều tra về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 03/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đưa ra xét xử về tội danh trên, sau đó Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - VT chờ đi chấp hành án phạt tù.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Lê Hồ Hữu H1 (tên gọi khác: Hội), sinh năm: 1992 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu V (chết) và bà Hồ Thị D, sinh năm: 1948.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 04/5/2023 bị Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích với số tiền 6.500.000 đồng (đã nộp xong).

    Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 46/LC ngày 20/10/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Trường H2 (tên gọi khác: H2 củ), sinh năm: 1988 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp D, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Thợ làm cây kiểng; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Thành S, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị N (chết); vợ Phan Thị Thùy T1, sinh năm: 1993; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020.

    Tiền án, tiền sự: 0.

    Nhân thân: Ngày 15/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Theo Bản án số 22/2011/HSST ngày 15/6/2011, ngày 16/8/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm (Theo Bản án số 98/2011/HSPT). Bị cáo chấp hành xong ngày 25/4/2012, đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.

    Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 45/LC ngày 20/10/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Trần Thế H3 (tên gọi khác: N1), sinh năm: 1990 tại Quảng Trị. Nơi cư trú: Thôn S, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết T2, sinh năm: 1949 và bà Nguyễn Thị S1 (chết).

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    • Ngày 14/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Theo bản án số 05B/2009/HSST). Bị cáo chấp hành xong ngày 27/8/2009, đã chấp hành xong về án phí nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự, hiện nay đã hết thời hiệu thi hành án dân sự;
    • Ngày 29/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tuyên phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Theo bản án số 19/2012/HSST). Bị cáo chấp hành xong ngày 31/7/2012, đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.
    • Ngày 22/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” (Theo bản án số 74/2023/HS-ST).

    Bị cáo bị bắt truy nã ngày 30/4/2023 để điều tra về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” xảy ra ngày 23/9/2022 tại huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; ngày 22/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức đưa ra xét xử về tội danh trên, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trích xuất bị cáo về Nhà tạm giữ Công an huyện X để phục vụ cho công tác điều tra trong vụ án.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Hoàng Trung Q (Mọ não), sinh năm: 1986 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng S2, sinh năm: 1950 và bà Dương Thị B1 (mất); vợ Trần Thị Khánh L1, sinh năm: 1988, có 01 con sinh năm 2012.

    Tiền án, tiền sự: 0.

    Nhân thân: Ngày 22/9/2023 bị Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Theo bản án số 91/2023/HS-ST).

    Bị cáo hiện bị tạm giữ từ ngày 30/4/2023 chuyển tạm giam ngày 09/5/2023 theo Lệnh tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X để điều tra về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xảy ra ngày 30/4/2023, ngày 22/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đưa ra xét xử về tội danh trên, sau khi bị cáo đi chấp hành án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trích xuất bị cáo về Nhà tạm giữ Công an huyện X để phục vụ cho công tác điều tra trong vụ án.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  6. Trần H4, sinh năm: 1994 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H5, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị Mỹ H6, sinh năm: 1955; vợ Phan Thị Thu H7, sinh năm: 1995; có 02 con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016.

    Tiền án, tiền sự: 0.

    Nhân thân: Ngày 22/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” (Theo bản án số 74/2023/HS-ST).

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/4/2023 để điều tra về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” xảy ra ngày 23/9/2022 tại huyện C, tỉnh BR-VT, ngày 22/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức đưa ra xét xử về tội danh trên, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trích xuất bị cáo về Nhà tạm giữ Công an huyện X để phục vụ cho công tác điều tra trong vụ án.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Nguyễn Đức L2, sinh năm: 1983 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Bùi Quốc T3, sinh năm: 1970 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Đinh Văn Q1, sinh năm: 1993 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Lê Hữu T4, sinh năm: 1977 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm: 1995 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Nguyễn L3, sinh năm: 1996 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Lê Huy L4, sinh năm: 1987 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Lê Doãn M1, sinh năm: 1980 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Bà Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm: 1986 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Tổ A, thôn S, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

  • Ông Thạch Thanh T5, sinh năm: 1990 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 07/5/2022, Đỗ Trung H và Trần H4 đến rẫy của ông Bùi Quốc T3 (tên gọi khác: Bé) tại ấp E, xã H, huyện X để chơi đánh bạc. Đến nơi, thấy Trần Thế H3 (N) ngồi ở chòi nên H, H4 và H3 cùng rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Binh xập xám”. Ngồi được một lúc thì Hoàng Trung Q (M) đến, thấy có đánh bạc nên vào chơi cùng, sau đó có T6 (chưa rõ lai lịch) vào xem các con bạc đánh. Khi Q đến cả nhóm chuyển sang đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Cào tố”. H mang theo 100.000 đồng, H4 mang theo 400.000 đồng, H3 mang theo 700.000 đồng và Q là 800.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Trong lúc chơi, H mượn của các con bạc 300.000 đồng (không nhớ rõ ai) sử dụng để đánh bạc, do thua hết nên H mạn điện thoại di động đến tiệm của anh Lê Doãn M1 tại xã S, huyện C cầm cố được 1.500.000 đồng. Sau đó, quay lại trả nợ 300.000 đồng rồi sử dụng 1.200.000 đồng tiếp tục cùng H4, H3, Q đánh bạc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Lê Hồ Hữu H1 (Hội) cùng Nguyễn Đức L2 và Đinh Văn Q1 đến. Hữu Hiếu vào tham gia đánh bạc còn L2, Văn Q1 không chơi, ngồi một lúc thì T6, L2, Văn Q1 ra về; Cùng lúc Nguyễn Trường H2 (Hải củ) vào chơi cùng. Khi đến, Hữu H1 mang theo 1.600.000 đồng, H2 là 250.000 đồng sử dụng để đánh bạc cùng Trung Hiếu, H4, H3, T. Cả 06 người cùng tham gia đánh bạc được 30 phút thì H3 thua hết tiền nên đến nhà ông Bùi Quốc T3 tại ấp E, xã H, huyện X mượn 300.000 đồng rồi quay lại cùng các con bạc chơi tiếp. Lúc này, Trung Q nghỉ không chơi nữa mà bỏ ra khu vực gần đó câu cá. Thời điểm Q nghỉ thì vẫn còn trong túi 800.000 đồng mang theo đánh bạc nhưng không ăn, không thua. H2 thua hết tiền mang theo nên mạn điện thoại di động đến cửa hàng điện thoại “Lê Hiếu” tại xã H, huyện X do anh Lê Huy L4 làm chủ cầm cố 1.200.000 đồng. Trong lúc H2 đi, Trung H, H3 và Hữu H1 chuyển sang chơi bài “binh xập xám” ăn thua bằng tiền còn H4 ra ngoài ngồi xem. Đến khoảng 22 giờ, H2 quay lại sử dụng 1.200.000 đồng vừa cầm cố được cùng Trung H, H3, Hữu H1 và H4 tiếp tục tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài “cào tố” ăn thua bằng tiền. Khoảng 00 giờ, Hoàng Trung Q quay lại mang theo 800.000 đồng trước đó, cả nhóm 06 người gồm: Q, T, H3, Hữu H1, H4, H2 tiếp tục đánh bạc cùng nhau dưới hình thức bài “Cào tố”.

Đến khoảng gần 01 giờ ngày 08/5/2022, Trung Q thua hết tiền nên nghỉ trước. Lúc này, L2 quay lại đòi tiền Trung Hiếu nợ trước đó nên cả hai xảy ra mâu thuẫn, L2 cùng Hữu H1 cầm 01 cây gõ, dài 106 cm rượt đánh Trung Hiếu. Thời điểm này cả nhóm nghỉ đánh, Hữu H1 còn lại khoảng 600.000 đồng, Trung H còn khoảng 3.000.000 đồng, H2 còn khoảng 200.000 đồng, H3 còn lại khoảng 200.000 đồng, Trần Hố t hết tiền. Trong quá trình xảy ra xô xát, Trung H nghi ngờ Hữu H1 và L2 lấy 3.000.000 đồng của mình nên đến Cơ quan công an trình báo. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, Đỗ Trung H, Nguyễn Trường H2, Lê Hồ Hữu H1, Hoàng Trung Q, Trần Thế H3, Trần H4 khai nhận hành vi đánh bạc của mình như trên.

Về hình thức đánh bạc như sau: “Binh xập xám” có từ 04 người tham gia đánh bạc trở xuống, chia cho mỗi người chơi 13 lá bài. Mỗi người chơi xếp bài của mình thành 03 chi để chơi với nhà cái. Các nhà con đặt cược từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng một ván. Bài của nhà cái và nhà con so với nhau ai cao hơn thì thắng số tiền cược và ngược lại. “Cào tố” là hình thức đánh bạc mà mỗi người tham gia đều phải đặt cược số tiền ban đầu 50.000 đồng và được chia 03 lá bài tính điểm. Ai có điểm cao hơn thì thắng. Tuy nhiên, trong quá trình chơi những người tham gia được đặt cược thêm số tiền không hạn chế. Nếu muốn xem, so bài với đối phương thì phải cược thêm số tiền ngang bằng. Không cược bằng thì xem như nhận thua, bỏ bài và không được xem bài của người chơi khác. Người thắng cuối cùng trong các người chơi sẽ thu về tất cả tiền đặt cược trong ván, bao gồm tiền cược ban đầu và tiền những người tham gia cược thêm.

Về nguồn gốc số tiền các con bạc sử dụng để tham gia đánh bạc cụ thể:

  • Đỗ Trung H mang theo 100.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Sau khi thua bạc, H lấy điện thoại di động đi tại cửa hàng của anh Lê Doãn M1 tại xã S, huyện C được 1.500.000 đồng và sử dụng hết vào việc đánh bạc.
  • Lê Hồ Hữu H1 mang theo 1.600.000 đồng, trong đó của H1 là 100.000 đồng và mượn của anh Lê Hữu T4 (anh ruột H1) 2.000.000 đồng, sau đó H1 lấy ra 500.000 đồng để đi tiệc thôi nôi, còn lại 1.600.000 đồng sử dụng để đánh bạc.
  • Nguyễn Trường H2 mang theo 250.000 đồng để đánh bạc. Sau khi thua bạc, H2 mang điện thoại cầm cố tại cửa hàng điện thoại di động “Lê Hiếu” tại xã H, huyện X do anh Lê Huy L4 làm chủ được 1.200.000 đồng và sử dụng hết vào việc đánh bạc.
  • Trần Thế H3 mang theo 700.000 đồng. Trong đó, có 200.000 đồng là tiền chị Trần Thị Ngọc Đ (chị ruột H3) cho và 500.000 đồng H3 được trả công làm thuê sơn nước. Sau khi sử dụng hết 700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, H3 đến nhà ông Bùi Quốc T3 (Bé) mượn 300.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc.
  • Hoàng Trung Q được anh Nguyễn L3 trả tiền công làm thuê 700.000 đồng, Q mượn thêm của anh L3 300.000 đồng. Sau đó, Q lấy ra 200.000 đồng mua đồ còn lại 800.000 đồng sử dụng để đánh bạc.
  • Trần H4 mang theo 400.000 đồng (được trả công làm thuê) sử dụng để đánh bạc.

Vật chứng tạm giữ và xử lý:

- 01 gậy gỗ cong, dài 106 cm, đường kính đầu lớn là 5 cm, đường kính đầu nhỏ là 3,5 cm là tang vật liên quan đến hành vi phạm hành chính của Lê Hồ Hữu H1 và Nguyễn Đức L2 nên Cơ quan điều tra chuyển tang vật theo hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính để xử lý theo thẩm quyền.

Đối với Nguyễn Đức L2, Đinh Văn Q1 không tham gia và giúp sức đánh bạc nên không xem xét xử lý, riêng đối tượng T6 đến xem đánh bạc hiện chưa rõ lai lịch nên chưa làm việc thể hiện có tham gia hay giúp sức cho việc đánh bạc nên không Cơ quan điều tra tách ra xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Ông Bùi Quốc T3 là chủ rẫy tại ấp E, xã H, huyện X không biết các bị cáo đến tham gia đánh bạc tại chòi rẫy của mình, không giúp sức cho việc đánh bạc nên không xem xét xử lý. Ngoài ra, thời điểm xảy ra vụ án, ông N2 (không rõ lai lịch) là người làm thuê trông coi rẫy cho ông T3 nằm ngủ không biết việc các bị cáo tham gia đánh bạc tại chòi rẫy, hiện vẫn chưa làm việc được với ông N2 nên Cơ quan điều tra tách ra xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Ông Lê Doãn M1 cho bị cáo Trung H và ông Lê Huy L4 cho bị cáo H2 cầm cố điện thoại, ông Bùi Quốc T3 cho H3 mượn 300.000 đồng nhưng không biết các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên không phạm tội là đúng quy định pháp luật;

Bà Trần Thị Ngọc Đ (chị ruột H3) cho H3 200.000 đồng, ông Lê Hữu T4 (anh ruột Hữu H1) cho H1 mượn 1.600.000 đồng, ông Nguyễn L3 cho Q1 mượn 300.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân, sau đó các bị cáo lấy để đánh bạc nên không xem xét xử lý bà Đ, ông T4, ông L3 là đúng quy định pháp luật;

Đối với Lê Hồ Hữu H1 và Nguyễn Đức L2 có hành vi cầm cây gỗ đánh Đỗ Trung H nhưng thương tích nhẹ, Trung Hiếu không có đơn yêu cầu khởi tố, xử lý hành vi của Hữu H1, L2 và từ chối đi giám định thương tích nên Cơ quan điều tra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hữu H1 và L2 là phù hợp. Riêng việc Trung H tố cáo Hữu H1 và L2 có hành vi đánh, cướp tài sản (tiền) của mình nhưng chưa làm việc, Hữu H1 và L2 không thừa nhận lấy tiền của Trung H. Trung Hiếu khai Hữu H1 và L2 có tham gia đánh còn việc có lấy tiền trong túi của mình không thì Đỗ Trung H không chắc chắn nên chưa đủ cơ sở để xem xét xử lý Hữu H1 và L2 về hành vi “Cướp tài sản” là đúng quy định.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS-XM ngày 21/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố bị cáo Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1, Nguyễn Trường H2, Trần Thế H3, Hoàng Trung Q, Trần H4 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1, Nguyễn Trường H2, Trần Thế H3, Hoàng Trung Q, Trần H4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 07/5/2022, Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1, Nguyễn Trường H2, Trần Thế H3, Hoàng Trung Q, Trần H4 có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Binh xập xám” và “Cào tố”. Trung Hiếu ăn thua 1.600.000 đồng (trong đó mang theo 100.000 đồng và cầm cố điện thoại di động là 1.500.000 đồng), Hữu H1 mang theo 1.600.000 đồng, H2 sử dụng 1.450.000 đồng (mang theo 250.000 đồng và cầm cố điện thoại di động là 1.200.000 đồng), H3 sử dụng 1.000.000 đồng (mang theo 700.000 đồng và mượn của ông T3 300.000 đồng), Q mang theo 800.000 đồng, H4 mang theo 400.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tổng cộng số tiền các con bạc Trung Hiếu, Hữu H1, H2, H3, Q, H4 sử dụng để đánh bạc là 6.850.000đ (Sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra, không thu giữ được số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nhưng căn cứ vào lời khai thể hiện cả 06 bị cáo cùng đánh bạc với nhau và xướng suất từ đầu đến khi kết thúc, trong đó có Trung Hiếu, H2, H3 thua bạc nên đi cầm cố tài sản và mượn tiền sau đó tiếp tục quay lại để tham gia đánh bạc, riêng Trung Q thời điểm đầu không ăn, không thua, Q nghỉ sau đó quay lại sử dụng chính số tiền mang theo lúc đầu để đánh bạc. Thời điểm các con bạc rời đi thì chiếu bạc vẫn tiếp diễn, ngoài các bị cáo cùng tham gia đánh bạc với nhau thì không có người khác vào và cũng không ai sử dụng tiền đánh bạc mang ra khỏi chiếu bạc.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1 (Hội), Nguyễn Trường H2 (H2 củ), Trần Thế H3 (N), Hoàng Trung Q (Mọ não), Trần H4 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, gây ra dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội mà Nhà nước đã có nhiều biện pháp ngăn chặn vì từ đó thường nảy sinh nhiều vi phạm pháp luật khác. Pháp luật quy định xử lý nghiêm đối với hành vi đánh bạc để giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tài sản của công dân. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, song vì mục đích thu lời bất chính nên đã cố ý thực hiện. Do vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là cần thiết, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; riêng các bị cáo Lê Hồ Hữu H1, Hoàng Trung Q, Trần H4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về vai trò, hình phạt của các bị cáo:

Các bị cáo tham gia đánh bạc không có sự cấu kết chặt chẽ nên không xem xét là phạm tội có tổ chức mà chỉ xem là đồng phạm giản đơn, với vai trò là người thực hành. Tuy nhiên cần xem xét về số tiền đánh bạc và nhân thân của từng bị cáo để có mức án phù hợp: Bị cáo Trung H sử dụng số tiền lớn nhất là 1.600.000 đồng tham gia đánh bạc, có nhân thân xấu (03 lần bị kết án) nên hình phạt cao nhất; bị cáo Hữu H1 mang theo số tiền đánh bạc lớn nhất 1.600.000 đồng, có nhân thân xấu (bị xử phạt vi phạm hành chính) nhưng có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên hình phạt cao thứ hai; bị cáo H3 sử dụng 1.000.000 đồng đánh bạc, có nhân thân xấu (03 lần bị kết án) nên hình phạt cao thứ ba; bị cáo H2 sử dụng số tiền cao thứ hai trong vụ án là 1.450.000 đồng, có nhân thân xấu (01 lần bị kết án) nên hình phạt đứng thứ tư; bị cáo Q mang theo 800.000 đồng, có nhân thân xấu (01 lần bị kết án) và bị cáo H4 mang theo 400.000 đồng, có nhân thân xấu (01 lần bị kết án) nhưng có 02 tình tiết giảm nhẹ nên hình phạt lần lượt thứ năm và thứ sáu trong vụ án.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xem xét xử lý nghiêm các bị cáo bằng hình phạt tù mới tương xứng với hành vi phạm tội các bị cáo gây ra, cho các bị cáo có thời gian sửa chữa sai lầm, cải tạo thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo trong vụ án đều không có việc làm ổn định, hiện một số bị cáo đang chấp hành án các bản án khác nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo Trung H, Hữu H1, H3, H2, Q, H4.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền đánh bạc các bị cáo sau khi phạm tội đã tiêu xài cá nhân hết, không thu giữ được và điện thoại di động các bị cáo sử dụng cầm cố lấy tiền đánh bạc, sau đó đã chuộc lại và bán tiêu xài cá nhân hết, không thu hồi được nên không xem xét là phù hợp;
  • Đối với 01 gậy gỗ cong, dài 106 cm, đường kính đầu lớn là 5 cm, đường kính đầu nhỏ là 3,5 cm là tang vật liên quan đến hành vi vi phạm hành chính của Lê Hồ Hữu H1 và Nguyễn Đức L2 nên cần tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định.

[7] Về số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo:

Do các bị cáo đã tiêu xài hết tiền đánh bạc, không thu hồi được nên buộc các bị cáo phải nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước, gồm:

  • Đỗ Trung H số tiền 1.600.000 đồng;
  • Lê Hồ Hữu H1 số tiền 1.600.000 đồng;
  • Nguyễn Trường H2 số tiền 1.450.000 đồng;
  • Trần Thế H3 số tiền 1.000.000 đồng;
  • Hoàng Trung Q số tiền 800.000 đồng;
  • Trần H4 số tiền 400.000 đồng.

[8] Các nội dung khác:

  • Ông Nguyễn Đức L2, Đinh Văn Q1 không tham gia và giúp sức đánh bạc nên không xem xét xử lý, riêng đối tượng tên T6 đến xem đánh bạc hiện chưa rõ lai lịch nên chưa làm việc thể hiện có tham gia hay giúp sức cho việc đánh bạc không nên Cơ quan điều tra tách ra xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp;
  • Ông Bùi Quốc T3 là chủ rẫy ở ấp E, xã H, huyện X không biết các bị cáo đến tham gia đánh bạc tại chòi rẫy của mình, không giúp sức cho việc đánh bạc nên không xem xét xử lý. Ngoài ra, thời điểm xảy ra vụ án, ông N2 (không rõ lai lịch) là người làm thuê trông coi rẫy cho ông T3 nằm ngủ không biết việc các bị cáo tham gia đánh bạc tại chòi rẫy, hiện vẫn chưa làm việc được với ông N2 nên Cơ quan điều tra tách ra xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp;
  • Ông Lê Doãn M1 cho bị cáo Trung H và anh Lê Huy L4 cho bị cáo H2 cầm cố điện thoại, ông Bùi Quốc T3 cho H3 mượn 300.000 đồng nhưng không biết các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên không phạm tội là đúng quy định pháp luật;
  • Bà Trần Thị Ngọc Đ (chị ruột H3) cho H3 200.000 đồng, ông Lê Hữu T4 (anh ruột Hữu H1) cho H1 mượn 1.600.000 đồng, ông Nguyễn L3 cho Q1 mượn 300.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân, sau đó các bị cáo lấy để đánh bạc nên không xem xét xử lý bà Đ, ông T4, ông L3 là đúng quy định pháp luật;
  • Đối với Lê Hồ Hữu H1 và Nguyễn Đức L2 có hành vi cầm cây gỗ đánh Đỗ Trung H nhưng thương tích nhẹ, Trung Hiếu không có đơn yêu cầu khởi tố, xử lý hành vi của Hữu H1, L2 và từ chối đi giám định thương tích nên Cơ quan điều tra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hữu H1 và L2 là phù hợp. Riêng việc Trung H tố cáo Hữu H1 và L2 có hành vi đánh, cướp tài sản (tiền) của mình nhưng chưa làm việc, Hữu H1 và L2 không thừa nhận lấy tiền của Trung H. Trung Hiếu khai Hữu H1 và L2 có tham gia đánh còn việc có lấy tiền trong túi của mình không thì Đỗ Trung H không chắc chắn nên chưa đủ cơ sở để xem xét xử lý Hữu H1 và L2 về hành vi “Cướp tài sản” là đúng quy định.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015,
  2. Tuyên bố:

    Các bị cáo Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1 (Hội), Trần Thế H3 (N), Nguyễn Trường H2 (H2 củ), Hoàng Trung Q (Mọ não) và Trần H4 phạm tội “Đánh bạc”;

    • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Trung H 01 (Một) năm tù.
    • Áp dụng Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 122/2023/HS-PT ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, buộc bị cáo H phải chấp hành là 01 năm tù + 6 năm tù = 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2022;

    • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Hồ Hữu H1 (Hội) 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án;
    • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Thế H3 (N) 09 (Chín) tháng tù.
    • Áp dụng Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, buộc bị cáo H3 phải chấp hành là 09 tháng tù + 07 năm 06 tháng tù = 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2023;

    • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H2 (H2 củ) 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án;
    • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Trung Q (Mọ não) 07 (Bảy) tháng tù;
    • Áp dụng Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 91/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, buộc bị cáo Q phải chấp hành là 07 tháng + 01 năm 06 tháng tù = 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2023;

    • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần H4 06 (Sáu) tháng tù;
    • Áp dụng Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, buộc bị cáo H4 phải chấp hành là 06 tháng + 07 năm tù = 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2023.

  3. Về số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Đỗ Trung H nộp số tiền 1.600.000 đồng; Lê Hồ Hữu H1 nộp số tiền 1.600.000 đồng; Nguyễn Trường H2 nộp số tiền 1.450.000 đồng; Trần Thế H3 nộp số tiền 1.000.000 đồng; Hoàng Trung Q nộp số tiền 800.000 đồng; Trần H4 nộp số tiền 400.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước.
  4. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1 (Hội), Nguyễn Trường H2 (H2 củ), Trần Thế H3 (N), Hoàng Trung Q (Mọ não), Trần H4.
  5. Về án phí HSST: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  6. Các bị cáo Đỗ Trung H, Lê Hồ Hữu H1 (Hội), Nguyễn Trường H2 (H2 củ), Trần Thế H3 (N), Hoàng Trung Q (Mọ não), Trần H4 mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

  7. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án; các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • TAND tỉnh BR-VT;
  • VKSND tỉnh BR-VT;
  • Sở tư pháp tỉnh BR-VT;
  • VKSND huyện Xuyên Mộc;
  • Công an huyện Xuyên Mộc;
  • Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc;
  • UBND xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bành Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổng cộng số tiền các con bạc sử dụng để đánh bạc là 6.850.000đ (Sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đông).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger